|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 15 tháng 03, 2026
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN
- MINH TRIẾT LÀ CỐT LÕI CỦA ĐẠO - Bổn sanh 528. Mahābodhijātakaṃ
“Pasannameva seveyya, appasannaṃ vivajjaye.”
Hãy gần người có lòng tin trong sáng; hãy tránh người
tâm đen tối.
“Bhaje bhajantaṃ purisaṃ, abhajantaṃ na bhajjaye.”
Hãy giao hảo với người biết trọng tình; đừng thân thiết
với kẻ bạc ác.
“Gavaṃ ce taramānānaṃ, jimhaṃ gacchati puṅgavo…”
Đầu đàn đi sai hướng, cả đàn cùng sai theo.
Quốc gia như cây lớn có quả.
CÂU CHUYỆN THỜI PHẬT TẠI THẾ
Đức Thế Tôn ở Jetavana, nhân nói về trí tuệ ba-la-mật,
đã kể lại chuyện quá khứ:
“Không phải chỉ bây giờ Như Lai mới là người có trí, có
khả năng đè bẹp những chủ thuyết sai lầm; thuở trước
cũng vậy.”
CÂU CHUYỆN TIỀN THÂN
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Bārāṇasī, Bồ-tát
sinh vào gia đình Bà-la-môn đại phú, tên là Bodhikumāra.
Lớn lên, ngài học đủ mọi môn ở Takkasilā, rồi chán đời
sống dục lạc, vào rừng Himavanta xuất gia làm đạo sĩ,
sống bằng rễ cây trái rừng. Đến mùa mưa lạnh, ngài rời
núi xuống du hóa, lần lượt đến Bārāṇasī, trú trong ngự
uyển của vua.
Hôm sau, đạo sĩ Bodhi vào thành khất thực, đến trước
cổng vua. Vua thấy ngài, sinh tâm kính phục, mời vào
cung, cho ngồi trên ngai, nghe pháp và dâng thức ăn
ngon.
Trong khi ăn, Bồ-tát nghĩ: “Cung vua là nơi nhiều hiểm
họa, nhiều kẻ thù. Nếu có nguy biến, ai sẽ báo cho ta
biết?” Ngài thấy một con chó lông vàng được vua yêu quý,
bèn cho nó một phần cơm lớn. Từ đó, chó ấy ghi ân.
Vua lại cho dựng am trong ngự uyển để Bồ-tát ở. Suốt
mười hai năm, vua trọng đãi ngài, cho ăn uống như bậc
thượng khách.
Vua có năm đại thần chuyên xử kiện, nhưng mỗi người đều
theo riêng một tà thuyết:
1.
Ahetukavādī – thuyết vô nhân: không có nhân duyên cho
thiện ác.
2.
Issarakatavādī – thuyết thần ngã: tất cả do Thượng đế
tạo.
3.
Pubbekatavādī – thuyết tiền định: mọi vui khổ đều do
nghiệp quá khứ định sẵn.
4.
Ucchedavādī – thuyết đoạn diệt: chết là hết.
5.
Khattavijjavādī – thuyết thực dụng cực đoan: chủ trương
vì lợi ích mình, giết cả cha mẹ cũng được.
Họ ăn hối lộ, xử án điên đảo: của có chủ biến thành vô
chủ, của vô chủ biến thành có chủ.
Một hôm, có người bị xử oan vì hối lộ, khóc lóc với
Bồ-tát. Bồ-tát động lòng từ, đi đến pháp đình, xét xử
đúng pháp, trả lại công bằng. Quần chúng hoan hô vang
dậy. Vua nghe tiếng reo, biết chuyện, bèn thỉnh Bồ-tát
từ nay mỗi ngày xử vài vụ án. Bồ-tát miễn cưỡng nhận lời
vì lòng thương dân. Từ đó, dân được lợi, còn năm đại
thần mất cơ hội tham nhũng.
Bọn đại thần nghĩ: “Từ khi đạo sĩ Bodhi xử án, chúng ta
chẳng còn thu được gì. Phải vu ngài là kẻ thù của vua,
làm vua giết ngài.”
Họ tìm cách sàm tấu với vua: “Đạo sĩ Bodhi
đang thu phục
lòng dân, mưu phản đó.” Ban đầu vua không tin, nhưng họ
bảo vua hãy nhìn đám đông đi theo Bồ-tát mỗi khi ngài
vào cung. Vua thấy dân đi theo, tưởng là phe cánh của
ngài, nên sinh nghi. Chúng bày kế: đừng bắt ngay, hãy
giảm dần sự đãi ngộ để xem phản ứng.
Nhà vua nghe theo ngày đầu chỉ cho ngồi chỗ thấp; ngày
sau cho ăn cơm trộn; ngày tiếp nữa
bắt đứng ở đầu
thang mà ăn; sau nữa cho ăn cơm tấm thô.
Bồ-tát hiểu vua đã nghe lời ly gián. Nhưng ngài chưa đi
ngay, vì muốn biết rõ.
Bọn giạn thần lại tâu:
“Đạo sĩ ấy không quan trọng việc ăn đâu, mà vì
muốn cái lọng trắng vương quyền.” Chúng xúi vua hôm sau
cho người cầm gươm đứng trong cổng, chém chết Bồ-tát rồi
chặt xác bỏ hố xí. Vua thuận theo.
Đêm đó vua thao thức, kể chuyện cho hoàng hậu nghe.
Hoàng hậu còn khuyên: “Nếu là kẻ thù, thì giết đi có gì
phải thương.” Con chó lông vàng nằm gần đó nghe được
hết. Sáng sớm hôm sau, nó ra nằm ở ngưỡng cửa, chờ
Bồ-tát tới.
Khi thấy ngài đến, nó tru lớn như nói: “Bạch ngài, chớ
vào! Nguy hiểm. Hãy mau tránh đi!” Đạo sĩ Bodhi hiểu
tiếng chó, quay về am, thu xếp hành trang định ra đi.
Vua đứng nhìn từ xa, thấy ngài mang đồ đạc, biết ngài
không hề mưu phản, liền chạy đến xin lỗi.
Vua hỏi:
Cớ sao hôm nay Ngài vội vã mang gậy, da nai, lọng, dép,
bát, y… định đi phương nào?”
Đạo sĩ Bodhi đáp:
“Suốt mười hai năm, ta chưa từng nghe con chó lông vàng
sủa như hôm nay.
Vua thú nhận lỗi và xin ngài ở lại. Bồ-tát từ chối, vì:
Rồi ngài nói nhiều bài kệ sâu sắc về:
Và kết luận với câu:
“Pasannameva seveyya, appasannaṃ vivajjaye”
Sau khi Đạo sĩ rời đi, năm gian thần vẫn lo ngại là Ngài
có thể trở lại. Họ toan tính: “Phải làm sao để ngài
không quay lại.”
Họ dựng chuyện vu cho hoàng hậu có tư tình, thư từ với
Bồ-tát. Vua lại nhẹ dạ, nghe theo, sai giết hoàng hậu.
Việc ấy làm bốn hoàng tử oán cha. Vua rơi vào tình thế
vô cùng nguy hiểm.
Đạo sĩ Bodhi nghe
tin, nghĩ: “Ngoài ta ra không ai có thể hòa giải vua với
các hoàng tử, cứu vua khỏi chết và ngăn các hoàng tử
khỏi tội ác.”
Ngài quay lại.
Khi trở lại, Bồ-tát mang theo một tấm da khỉ. Ngài cố ý
vuốt ve nó như vật tri ân. Khi vua hỏi, ngài nói đại ý:
“Con khỉ này từng giúp ta nhiều việc, nên ta nhớ ơn nó.”
Bọn đại thần nghe thế liền cười nhạo:
“Xem kìa, ông đạo sĩ giết khỉ ăn thịt, lột da mang
theo!”
Đạo sĩ chờ đúng lúc ấy để vặn lại từng người theo chính
học thuyết của họ.
a) Phá thuyết vô nhân (ahetuvāda)
Nếu mọi việc không do nhân duyên, tự nhiên mà thành, thì
hành động giết khỉ ấy cũng chỉ là tự nhiên phát sinh;
vậy lấy gì buộc tội?
b) Phá thuyết Thượng đế an bài (issarakata)
Nếu mọi thiện ác đều do đấng Tạo hóa sai khiến, thì
người làm ác chỉ làm theo lệnh; kẻ phải chịu tội chính
là Thượng đế, không phải người ấy.
c) Phá thuyết tất cả do tiền định (pubbekata)
Nếu mọi khổ vui hiện tại chỉ là trả nợ nghiệp xưa, thì
việc giết con khỉ chỉ là nó trả món nợ cũ; vậy đâu còn
ai đáng bị trách.
d) Phá đoạn diệt luận (ucchedavāda)
Nếu chết là hết, không có đời sau, không có hậu quả tiếp
diễn, thì tội phước chỉ là chuyện rỗng; vậy chê trách ai
nữa?
e) Phá thuyết thực dụng cực đoan(khattavijjā)
Nếu cần thiết mà giết cả cha mẹ cũng được, thì giết một
con khỉ để sinh tồn lại càng không có gì sai. Chính học
thuyết đó mới là nguy hiểm.
Bồ-tát dùng ngay hệ quả nội tại của từng tà kiến để bẻ
gãy tà kiến ấy. Đây là nghệ thuật lý luận rất sắc bén:
lấy chính tiền đề của đối phương dẫn đến phi lý, khiến
họ tự mất chỗ đứng.
Sau khi phá xong năm tà thuyết, Bồ-tát dạy vua rất nhiều
điều quan trọng:
Nhà vua ác pháp làm hại cả đất nước Nếu vua cai trị bằng
phi pháp thì: cây cỏ thuốc men mất linh, thương nhân bị
bóc lột, quân sĩ bất mãn, sa-môn, hiền nhân bị tổn hại,
gia đình rối loạn, con cái cũng chống lại cha.
Vua là đầu tàu của xã hội
Như đàn bò đi theo con đầu đàn: đầu đàn đi lệch, cả đàn
lệch; đầu đàn đi đúng hướng, cả đàn đi đúng hướng. Cũng
vậy: vua sống phi pháp, cả nước khổ; vua sống đúng pháp,
cả nước an vui.
Dùng hình ảnh cây lớn có quả
Người ngu hái trái non, không biết vị ngon, lại làm hỏng
cả hạt giống. Cũng thế, vua cai trị phi pháp thì chỉ bóc
lột trước mắt, làm tiêu hao cả quốc gia. Người khôn hái
trái chín đúng lúc, vừa hưởng được vị ngon vừa không phá
hạt giống.
Đạo sĩ hòa giải vua với bốn hoàng tử, chỉ rõ: chính năm
đại thần là nguyên nhân của họa lớn, hoàng hậu đã bị
giết oan, vua phải từ nay cẩn trọng, không nghe lời chia
rẽ. Vua muốn giết năm đại thần, nhưng Bồ-tát ngăn lại.
Cuối cùng vua chỉ làm nhục rồi đuổi khỏi nước.
Đạo sĩ ở lại ít ngày, dạy vua phải – sống không phóng
dật, rồi trở về Himavanta, tu thiền chứng đắc, sinh về
Phạm thiên. Tỳ khưu Giác Đẳng phóng tác từ Kinh Bổn Sanh |