BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 24, tháng 10, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Tuổi Già – . SN. 1.53
BÀI 053. TÌNH BẠN VÀ CUỘC SỐNG -
Kinh Bằng Hữu (Mittasuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-053.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh số 52 mang ý nghĩa gần như trùng lặp với bài kinh 51 nên không  cần bài giảng.

52. Không Lão Hoá (Ajarā)

(Vị thiên:)
Cái gì tốt vì không lão hoá?
Cái gì tốt khi được an lập?
Cái gì là châu báu loài người?
Cái gì trộm cướp không đoạt được?

(Đức Thế Tôn:)
Giới tốt vì không suy hoại;
Tín là tốt khi được an lập ;
Trí tuệ là châu báu của loài người;
Phước đức kẻ trộm không thể lấy được.

BÀI 053. TÌNH BẠN VÀ CUỘC SỐNG- Kinh Bằng Hữu (Mittasuttaṃ)

Trong cuộc sống, con người luôn cần đến những người bạn đồng hành. Trên đường thiên lý, khách lữ ữ  cần đoàn lữ hành để tránh hiểm nguy; trong mái ấm gia đình, tình thương của người mẹ là nơi nương tựa gần gũi; giữa những lúc hoạn nạn, người bạn chân thành trở thành nguồn an ủi và nâng đỡ. Tuy nhiên, tất cả những mối tương giao ấy, dù quý báu đến đâu, cũng chỉ có thể đồng hành với chúng ta trong những hoàn cảnh và giới hạn nhất định.Chính những phước nghiệp (puññāni) đã làm với thiện tâm mới là người bạn theo ta trong đời sống tương lai. Phước báu không chỉ là sự tích lũy công đức để mong cầu quả lành, mà còn biểu hiện sự chuyển hóa nội tâm qua bố thí, trì giới, từ ái và những thiện hạnh. Điều thiện đã làm không mất đi chỉ vì hoàn cảnh đổi thay; khi hội đủ nhân duyên, nghiệp thiện có khả năng trổ quả an vui.

Kinh Văn

"Ko nu mitto pavasato,
ko mitto gharamāvasaṃ;
Ko nu mitto aturassa,
ko nu mitto paraloke?"
"Sārattho mitto pavasato,
mātā mittaṃ gharamāvasaṃ;
Atho mitto aturassa,
yo hoti sahāyako.
Yaṃ kataṃ puññakammaṃ,
taṃ mittaṃ paralokasmiṃ."

(Vị Thiên:)
Đường xa ai là bạn?
Trong nhà ai là bạn?
Hữu sự ai là bạn?
Đời sau ai là bạn?

(Đức Thế Tôn:)
Đoàn lữ hành: bạn đường,
Mẹ: là bạn trong nhà,
Bạn thiết: khi hữu sự,
Phước: là bạn đời sau.

Chú Thích

Bài kinh thuộc thể vấn đáp thi kệ giữa một vị Thiên và Đức Phật, được xếp trong Jarāvagga – Phẩm Già. Bốn câu hỏi là bốn phạm vi nương tựa của đời người:

Mitta (bạn, bằng hữu): Chỉ người có quan hệ thân thiện, giúp đỡ và nâng đỡ nhau. Trong bài kinh, Đức Phật mở rộng ý nghĩa của mitta từ người bạn bằng xương thịt đến phước nghiệp có khả năng đem lại lợi ích trong đời sau. Tình bạn vì vậy được đánh giá không chỉ qua sự thân thiết, mà còn qua khả năng mang lại lợi ích thiết thực.

Sattho pavasato mittaṃ (Đoàn lữ hành là bạn của người đi xa): Sattha là đoàn người cùng đi đường, đặc biệt những đoàn thương nhân thời cổ. Trên những hành trình dài qua rừng núi, sa mạc và vùng đất xa lạ, đoàn lữ hành giúp bảo vệ nhau trước thú dữ, trộm cướp, bệnh tật và những hiểm nguy bất ngờ. Người bạn đường quý ở sự tương trợ, chứ không nhất thiết ở mối quan hệ thân thiết lâu năm.

Mātā mittaṃ sake ghare (Mẹ là bạn trong nhà mình): Mātā là mẹ; sake ghare nghĩa là trong chính ngôi nhà của mình. Đức Phật nêu hình ảnh người mẹ như biểu tượng của tình thương chăm sóc gần gũi. Người mẹ thương con ngay cả lúc con đau yếu, bất lực, không còn khả năng đem lại lợi ích cho người khác. Đây là lời tán thán tình mẫu tử, không có nghĩa phủ nhận tình thương của người cha hoặc những người thân khác.

Sahāyo atthajātassa (Bạn thiết  là người giúp đỡ khi hữu sự): Sahāya là người đồng hành, cộng sự, người hỗ trợ. Atthajāta chỉ hoàn cảnh có công việc, nhu cầu hoặc khó khăn phát sinh. Bạn chân thành không chỉ xuất hiện khi vui vẻ, thuận lợi mà còn sẵn lòng chia sẻ gánh nặng khi hoạn nạn. Sự giúp đỡ thiết thực là thước đo giá trị của tình bạn. Sớ giải nói thêm đó là người bạn lặp đi lặp lại, nhiều lần. Một người bạn tốt không chỉ giúp đỡ trong một hoàn cảnh rồi bỏ mặc, mà có sự quan tâm và hỗ trợ bền bỉ khi cần thiết. Tuy nhiên, tình bạn chân chính còn đòi hỏi sự hướng dẫn nhau đến điều thiện, không phải đồng lõa trong những hành vi bất thiện.

Sayaṃkatāni puññāni (Những phước lành do chính mình tạo tác): Sayaṃ là chính mình; katāni là đã làm; puññāni là những việc phước thiện. Cụm từ nhấn mạnh tính cá nhân của nghiệp: phước lành phát sinh từ những hành động thiện có chủ ý do chính mình thực hiện. Bố thí, trì giới, tu tập tâm từ và phát triển trí tuệ là những phương diện quan trọng của đời sống tạo phước. Theo Phật Pháp, nghiệp (kamma) trước hết được xác định bởi tác ý (cetanā). Phước thiện không phải vật chất được cất giữ ở một nơi nào đó, mà là nghiệp thiện có khả năng cho quả khi hội đủ nhân duyên.

Taṃ mittaṃ samparāyikaṃ (Đó là người bạn trong đời sau): Samparāyika chỉ điều thuộc đời sau hoặc có liên hệ đến đời sống tương lai. Khi mạng sống hiện tại chấm dứt, những quan hệ thế gian không thể bảo đảm hạnh phúc cho đời kế tiếp. Nghiệp thiện đã tạo có khả năng hỗ trợ quả tái sinh tốt đẹp và những kinh nghiệm an vui trong tương lai. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng chỉ có nghiệp thiện tiếp tục cho quả. Nghiệp bất thiện cũng có khả năng trổ quả tùy duyên. Đức Phật đặc biệt nêu phước nghiệp trong bài kinh này vì đó là người bạn đem lại lợi ích.

Sớ Giải

53.Tatiye pavasatoti gāmato nikkhamma aññattha gacchato. Satthoti sapaṇiyabhaṇḍena vohāraṃ katvā gacchanto vāṇijasattho. So hi tassa bhayaṃ harati, tasmā pavasato mittaṃ.
Sake ghareti attano gehe. Mātā hi gelaññakālepi puttaṃ na vijahati, tasmā mātā mittaṃ sake ghare.
Atthajātassāti kiccuppattiyā. Sahāyo hi punappunaṃ upakārako hoti, tasmā vuttaṃ “hoti mittaṃ punappunaṃ”ti.
Samparāyikanti paralokaṃ gacchantassa. Sayaṅkatāni puññāni hi paraloke bandhūni honti, corādīhi ahāriyāni, tasmā taṃ mittaṃ samparāyikanti.

Trong bài kinh thứ ba (của phẩm):

Pavasato – Người đi đường xa: Nghĩa là người từ làng mình đi ra chỗ khác. Sattho – là đoàn buôn bán mang theo hàng hóa đi buôn. Đoàn ấy trừ được sự sợ hãi cho kẻ đi một mình, vì thế đoàn lữ hành là bạn của kẻ đi đường xa.

Sake ghare – Trong nhà mình: Nghĩa là trong nhà của chính mình. Mẹ dầu trong lúc bệnh hoạn, dơ bẩn, cũng không bỏ con, vì thế mẹ là bạn trong nhà mình.

Atthajātassa – Khi việc cần khởi sanh: Nghĩa là khi công việc sanh khởi. Người bạn đồng hành luôn luôn giúp đỡ lại và lại nữa, vì thế nói “là bạn lại và lại nữa”.

Samparāyikaṃ – Thuộc đời sau: Nghĩa là thuộc về người đi sang đời sau. Vì những phước báu do tự mình làm chính là thân bằng quyến thuộc ở đời sau, không bị trộm cướp lấy được, vì thế phước ấy là bạn đời sau.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

VI. Phẩm Già

III. Bạn

--Ai bạn kẻ đi đường?
Ai bạn người ở nhà?
Ai bạn khi cần thiết?
Ai bạn cho đời sau?
Bạn đường, bạn đi đường,
--Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn bè khi cần thiết,
Mới là bạn thường xuyên,
Công đức tự mình làm,
Là bạn cho đời sau.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01