|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 04 tháng 04, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 26. TỨ DIỆU ĐẾ, phần 1
Không phải là một đề tài giữa bao nhiêu đề tài Phật pháp
Bất cứ
một hành trình hay nỗ lực lớn lao nào đều cần có cái nhìn
toàn diện.
Điều nầy
có nghĩa là sự nhận thức rõ ràng về thực trạng, nguyên nhân
của vấn đề, giải pháp và phương cách thực hiện. Không có cái
nhìn nhất quán thì chẳng những phí phạm thời gian, công sức
cho những thứ vô ích mà còn dẫn đến sự thất bại vì hiểu biết
sai lạc.
Tứ diệu
đế được Đức Phật giảng trong bài pháp tiên khởi hay Kinh
Chuyến Pháp Luân và được nhấn mạnh là trọng tâm của giáo
pháp cho đến khi Đức Thế Tôn viên tịch.
Điều cho
thấy tầm quan trọng của tứ diệu đế. Không nên quan niệm tứ
diệu đế là một đề tài pháp số trong hàng trăm đề tài khác
của Phật pháp. Người học Phật không thể không có cái nhìn
nghiêm túc về điểm nầy.
Tứ diệu
đến được thí dụ là dấu chân voi trong rừng với chiều kích
rộng lớn bao hòm tất cả dấu chân con vật khác cũng như tứ
diệu đế bao hàm những gì được Đức Phật giảng dạy.
Đây
là tổng quan của giáo pháp. Nếu hiểu bất cứ điều nào đó
trong kinh điển mà xem như nằm ngoài tứ diệu đế đều đi ngược
lại những gì Phật dạy. Thí dụ trong kinh Singalovadasutta
Đức Phật dạy những pháp mà người chồng nên thực hành đối với
vợ và ngược lại có những pháp mà người vợ nên có đối với
chồng. Thoạt nghe thì những điều nầy mang tính thế tục không
liên quan gì tới tứ diệu đế. Trên thực tế thì tất cả đều nói
về những hệ luỵ của kiếp nhân sinh (khổ đế) và giải pháp dù
ngắn hạn hay dài hạn.
Diệu đế không có nghĩa là sự thật cao siêu của triết lý
Chữ diệu
đế thường được ngộ nhận là chân lý cao siêu theo cách ca
ngợi.
Trong tín ngưỡng cũng như văn hoá người ta thường dùng rất
nhiều mỹ từ để nói về những gì mình thích. Trong trường hợp
tứ diệu đế - được định nghĩa là bốn sự thật vi diệu – thì
chữ vi diệu không mang ý nghĩa ca ngợi. Giống như nói về một
phương thuốc rất tốt để chữa chứng bệnh nào đó thì chữ “rất
tốt” là nói về công năng chứ không phải là lời khen.
Phải học
tứ diệu đế với tinh thần ứng dụng thực tiễn.
Phải hiểu tứ diệu đế như tấm bản đồ hay thuốc trị bệnh. Giá
trị của tâm bản đồ là hướng dẫn đường đi chứ không phải ở
giấy in tốt hay màu sắc đẹp. Giá trị của thuốc trị bệnh cũng
vậy. Không nên quan niệm thuốc hay
giá tiền, ở bao bì đẹp hay vị thuốc ngon ngọt mà
chính ở hiệu năng trị bệnh.
Tứ diệu
đế nhấn mạnh tánh cấp thiết của sự tu tập.
Một đặc điểm cần lưu ý là tứ diệu đế nhấn mạnh tới
nhu cầu cấp thời của sự tu tập để giải quyết vấn đề thiết
yếu là giải thoát khổ đâu. Những thí dụ về lữa cháy trên đầu
hay mủi tên độc cần nhổ ra để trị thương nói rõ tại sao nên
có thái độ kíp thời đối với hệ luỵ của cuộc sống.
Từ lý thuyết đến thực hành
Tứ diệu
đế không phải khái niệm về giáo pháp hay cái nhìn chung về
cuộc sống mà bao hàm cả pháp học, pháp hành, pháp thành.
Sẽ là một điều rất sai lầm nếu hiểu tứ diệu đế là phần lý
thuyết của Phật pháp. Từ sự học hiểu đến ứng dụng và xuyên
suốt hành trình dẫn đến giác ngộ thì tứ diệu đế đều cần được
thẩm định như “ba luân mười hay chuyển” được Đức Phật dạy
trong Kinh Chuyển Pháp Luân.
Giáo lý
tứ đế cho thấy sự tách biệt giữa lý thuyết và thực hành là
điều vô nghĩa.
Một số lớn Phật tử thường tranh luận về chủ trương nên học
hay nên thực hành nhưng hai “trường phái” khác biệt. Thật ra
đây là cái nhìn phiến diện. Cũng như khi người ta muốn trị
Covid mà không hiểu về covid thì là hoang tưởng. Không có gì
để phải tranh cải về lợi ích cả hai lý thuyết và thực hành.
Bốn sự thật về khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ, con đường
đưa đến sự diệt khổ là một kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự hiểu
biết và thực hành cụ thể.
Có một
liên hệ trọng yếu giữa tổng quát và chi tiết.
Như một hành trình dài đòi hỏi các nhìn chung về đường đi
điểm đến đồng thời cũng cần tập chú vào từng giai đoạn.
Không có cái nhìn chung thì mất phương hướng. Thiếu hiểu về
chi tiết sẽ tạo nên nhiều vấp váp. Giáo lý tứ diệu đế hàm
chứa cả hai cái nhìn tổng quan và sự ứng dụng cụ thể. (Còn tiếp) Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |