|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 05 tháng 04, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG V. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI ,(S.i,128)
Bài
1. Kinh Āḷavikā (Āḷavikāsuttaṃ)
-KHÔNG CÓ GIẢI THOÁT THÌ TU LÀM GÌ?.
Nỗ lực tu tập
chỉ có giá trị khi có quả chứng giác ngộ giải thoát. Bằng
cách nào đó người tu cần có nhận thức về cứu cánh của đời
sống phạm hạnh. Nhờ như vậy mới có cuộc sống tương thích với
những gì hướng tới. Trong bài kinh nầy Ác ma là một chúng
sanh thật. Nhưng phiền não ma cũng thường khiến tâm người tu
bị chao đảo vì nghi hoặc đối với mục đích chân thực của sự
tu tập. Phải với tri tuệ do học hỏi giáo pháp hay do tu tập
mới đủ sáng suốt để sống đời phạm hạnh viễn ly.
Evaṃ me sutaṃ
Tôi được nghe
như vầy:
ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme.
Thuở ấy Đức Thế
Tôn trú ở Sāvatthi, Kỳ Viên, ngôi già lam của ông
Anāthapiṇḍika.
Atha kho āḷavikā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṃ
piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena
andhavanaṃ tenupasaṅkami vivekatthinī.
Vào buổi sáng tỳ
khưu ni Alavikā đắp y, cầm y bình bát và y kép đi vào
Sāvatthi khất thực. Sau khi khất thực và thọ trai xong vị ấy
trên đường đi đến rừng Andha để tịnh mặc viễn ly.
Atha kho māro pāpimā āḷavikāya bhikkhuniyā bhayaṃ
chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo vivekamhā cāvetukāmo
yena āḷavikā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷavikaṃ
bhikkhuniṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma muốn
làm tỳ khưu ni Alavikā run sợ, hốt
hoảng, kinh khiếp để tôn giả từ bỏ tịnh mặc viễn ly đã nói
lên kệ ngôn:
‘‘Natthi nissaraṇaṃ loke, kiṃ vivekena kāhasi;
Ðời không có xuất ly,
Atha kho āḷavikāya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘ko nu khvāyaṃ
manusso vā amanusso vā gāthaṃ bhāsatī’’ti?
Tỷ khưu ni Alavikā
tự nghĩ: "Ai đã nói lên kệ
ngôn này? Người hay phi nhân?"
Atha kho āḷavikāya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘māro kho ayaṃ
pāpimā mama bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo
vivekamhā cāvetukāmo gāthaṃ bhāsatī’’ti.
Tỷ khưu ni
Alavikā suy xét: "Chính Ác ma rmuốn khién ta run sợ, hốt
hoảng, kinh khiếp để từ bỏ tịnh mặc viễn ly đã nói lên kệ
ngôn".
Atha kho āḷavikā bhikkhunī ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā
māraṃ pāpimantaṃ gāthāhi paccabhāsi –
Tỷ khưu ni
Alavikā biết được: "Ðấy là Ác ma", liền nói kệ ngôn:
‘‘Atthi nissaraṇaṃ loke, paññāya me suphussitaṃ;
Có xuất ly ở đời,
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ āḷavikā bhikkhunī’’ti
dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Tỷ khưu ni Alavikā
đã biết ta” phiền
muộn và thất vọng biến mất ngay chỗ ấy.
‘‘Natthi nissaraṇaṃ loke = Không có xuất ly ở đời
Tỷ khưu ni Alavikā là tôn giả Selā. Vì là công chúa con vua
Āḷavaka nên được gọi là Āḷavikā. Rùng Andha – hay Rừng Người Mù (An Đà Lâm) có tên như vậy vì
sau khi Đức Phật Kassapa viên tịch một thiện nam tên
Yasodhara mang vàng bạc đến đây để xây một tháp thờ Xá lợi
Phật. Vị thiện nam nầy bị bọn cướp phục kích cướp vàng bạc
và làm mù mắt. Bọn cướp bị hiện báo nghiệp ngay sau đó đều
bị mù mắt và đến nơi nầy sinh sống nên khu rừng có tên như
vậy. Khu rừng cách Sāvatthi ba cây số về phía nam được các
cấm vệ quân canh gác. Theo Sớ giải từ ngữ xuất ly (nissaraṇa) ở đây chỉ cho niết
bàn. Theo Hậu Sớ Giải thì trí tuệ ở đây chỉ cho tuệ giác
trong các tâm đạo và tâm quả.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |