|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 04, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG V. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI ,(S.i,129)
Bài
3. Kinh Kisāgotamī (Kisāgotamīsuttaṃ)
-KHI DĨ VÃNG KHÔNG LÀ ÁM ẢNH..
Theo thường tình
thì quá khứ đau thương là vết hằn không ai muốn khơi lại
thậm chí sợ hãi khi nhắc đến. Nhưng với một người trỗi dậy
từ khổ ải với tuệ giác thì quá khứ chỉ là quá khứ. Ác ma
muốn làm một Thánh ni xáo trộn nội tâm với việc nhắc lại
biến cố bi luỵ khi vị Thánh ni còn là một thiếu phụ mà đứa
con duy nhất đột tử. Câu trả lời của Thánh ni giản dị: Ái và
vô minh không còn thì có gì để bận lòng kể cả nỗi sợ hãi đối
với Ác ma giữa rừng sâu. Câu chuyện một lần nữa nói lên con
đường thoát khổ mà Đức Phật truyền dạy trong ý nghĩa chân
thực nhất.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthi.
Atha kho Kisāgotamī bhikkhunī pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṃ
piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena
andhavanaṃ tenupasaṅkami divāvihārāya. Andhavanaṃ
ajjhogāhetvā aññatarasmiṃ rukkhamūle divāvihāraṃ nisīdi.
Vào buổi sáng tỳ khưu ni Kisāgotamī đắp y, cầm bình bát và y
kép đi vào Sāvatthi khất thực. Sau khi khất thực và thọ trai
xong vị ấy trên đường đi đến rừng Andha để nghỉ trưa. Sau
khi đi sâu vào rừng vị ấy tĩnh toạ dưới một gốc cây.
Atha kho māro pāpimā Kisāgotamīya bhikkhuniyā bhayaṃ
chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo
yena Kisāgotamī bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā somaṃ
bhikkhuniṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi Ác ma muốn
làm tỳ khưu ni Kisāgotamī run sợ,
hốt hoảng, kinh khiếp, rời xa thiền định
đã đến gần và nói lên kệ ngôn:
‘‘Kiṃ nu tvaṃ mataputtāva, ekamāsi rudammukhī;
Sao con đã mất rồi
Atha kho Kisāgotamīya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘ko nu
khvāyaṃ manusso vā amanusso vā gāthaṃ bhāsatī’’ti?
Tỷ khưu ni Kisāgotamī
tự nghĩ: "Ai đã nói lên kệ
ngôn này? Người hay phi nhân?"
Atha kho Kisāgotamīya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘māro kho
ayaṃ pāpimā mama bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ
uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṃ bhāsatī’’ti.
Tỷ khưu ni
Kisāgotamī xét thấy: "Chính Ác ma muốn khiến ta run sợ, hốt
hoảng, kinh khiếp để từ bỏ thiền định đã nói lên kệ ngôn".
Atha kho Kisāgotamī bhikkhunī ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti
viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāhi paccabhāsi –
Tỷ khưu ni
Kisāgotamī biết được: "Ðấy là Ác ma", liền nói kệ ngôn:
‘‘Accantaṃ mataputtāmhi, purisā etadantikā;
Qua rồi chuyện con chết
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ Kisāgotamī bhikkhunī’’ti
dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Tỷ khưu ni Kisāgotamī đã biết ta” phiền
muộn và thất vọng biến mất ngay chỗ ấy.
‘‘Kiṃ nu tvaṃ mataputtāva ekamāsi rudammukhī = Sao một mình rơi lệ như con chết?
Sớ giải đề cập điều Ác ma nói liên quan tới một quãng đời đầy
nước mắt trước khi xuất gia của thánh ni Kisāgotamī vốn là
một phụ nữ có đứa con trai duy nhất chết vì bạo bệnh. Vị nầy
ôm xác con đi nhiều nơi mong tìm một thần y cãi tử hoàn sinh
đứa con yêu quý của mình nhưng vô vọng. Cuối cùng nàng tìm
đến Đức Phật được Bậc Đạo Sư khai thị bằng lời dạy nếu tìm
được ít hạt cải trong nhà nào chưa từng có người thân chết
thì sẽ cứu được hài nhi. Hột cải thì có nhiều nhưng không ai
chưa từng có thân nhân chết. Nàng tỉnh ngộ chôn xác con rồi
xuất gia. không lâu chúng thánh quả. Theo Sớ giải hai câu Accantam mataputtāmhi / Purisā
etadantikā nên hiểu trong ý nghĩa liên đới: chẳng màng
chuyện con cái nên chuyện tìm kiếm đàn ông cũng chẳng còn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |