BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 09 tháng 04, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG V. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI ,(S.i,129)  

Bài 3. Kinh Kisāgotamī (Kisāgotamīsuttaṃ) -KHI DĨ VÃNG KHÔNG LÀ ÁM ẢNH..

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

         

Theo thường tình thì quá khứ đau thương là vết hằn không ai muốn khơi lại thậm chí sợ hãi khi nhắc đến. Nhưng với một người trỗi dậy từ khổ ải với tuệ giác thì quá khứ chỉ là quá khứ. Ác ma muốn làm một Thánh ni xáo trộn nội tâm với việc nhắc lại biến cố bi luỵ khi vị Thánh ni còn là một thiếu phụ mà đứa con duy nhất đột tử. Câu trả lời của Thánh ni giản dị: Ái và vô minh không còn thì có gì để bận lòng kể cả nỗi sợ hãi đối với Ác ma giữa rừng sâu. Câu chuyện một lần nữa nói lên con đường thoát khổ mà Đức Phật truyền dạy trong ý nghĩa chân thực nhất.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthinidānaṃ.

Tại Sāvatthi.

Atha kho Kisāgotamī bhikkhunī pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena andhavanaṃ tenupasaṅkami divāvihārāya. Andhavanaṃ ajjhogāhetvā aññatarasmiṃ rukkhamūle divāvihāraṃ nisīdi.

Vào buổi sáng tỳ khưu ni Kisāgotamī đắp y, cầm bình bát và y kép đi vào Sāvatthi khất thực. Sau khi khất thực và thọ trai xong vị ấy trên đường đi đến rừng Andha để nghỉ trưa. Sau khi đi sâu vào rừng vị ấy tĩnh toạ dưới một gốc cây.

Atha kho māro pāpimā Kisāgotamīya bhikkhuniyā bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena Kisāgotamī bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā somaṃ bhikkhuniṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma muốn làm tỳ khưu ni Kisāgotamī run sợ, hốt hoảng, kinh khiếp, rời xa thiền định  đã đến gần và nói lên kệ ngôn: 

‘‘Kiṃ nu tvaṃ mataputtāva, ekamāsi rudammukhī;
Vanamajjhagatā ekā, purisaṃ nu gavesasī’’ti.

Sao con đã mất rồi
Vẫn một mình nhuốm lệ
Đơn thân vào rừng vắng
Đang tìm nam nhân nào?

Atha kho Kisāgotamīya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘ko nu khvāyaṃ manusso vā amanusso vā gāthaṃ bhāsatī’’ti?

Tỷ khưu ni Kisāgotamī tự nghĩ: "Ai đã nói lên kệ ngôn này? Người hay phi nhân?"

Atha kho Kisāgotamīya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘māro kho ayaṃ pāpimā mama bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṃ bhāsatī’’ti.

Tỷ khưu ni Kisāgotamī xét thấy: "Chính Ác ma muốn khiến ta run sợ, hốt hoảng, kinh khiếp để từ bỏ thiền định đã nói lên kệ ngôn".

Atha kho Kisāgotamī bhikkhunī ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāhi paccabhāsi –

Tỷ khưu ni Kisāgotamī biết được: "Ðấy là Ác ma", liền nói kệ ngôn:

‘‘Accantaṃ mataputtāmhi, purisā etadantikā;
Na socāmi na rodāmi, na taṃ bhāyāmi āvuso.
‘‘Sabbattha vihatā nandī, tamokkhandho padālito;
Jetvāna maccuno [jetvā namucino (sī.)] senaṃ, viharāmi anāsavā’’ti.

Qua rồi chuyện con chết
Tìm đàn ông cũng không
Ta không sầu, không luỵ
Cũng chẳng sợ ngươi đâu
Chẳng hỷ tham chỗ nào
Bóng tối đã xua tan
Thắng ma quân Tử thần
Ta an trú vô lậu

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ Kisāgotamī bhikkhunī’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Tỷ khưu ni Kisāgotamī đã biết ta” phiền muộn và thất vọng biến mất ngay chỗ ấy.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Kiṃ nu tvaṃ mataputtāva ekamāsi rudammukhī = Sao một mình rơi lệ như con chết?
Vanamajjhagatā ekā = đơn độc vào giữa rừng
purisaṃ nu gavesasī’’ti = đang đi tìm đàn ông?
‘‘Accantaṃ mataputtāmhi = qua rồi chuyện con chết
purisā etadantikā = chấm dứt chuyện (tìm) đàn ông
Na socāmi na rodāmi = chẳng buồn, chẳng bi luỵ
na taṃ bhāyāmi āvuso = nầy bạn, ta cũng chẳng sợ ngươi
‘‘Sabbattha vihatā nandī = hỷ tham mọi chốn đã đoạn tận
tamokkhandho padālito = Bóng tối muôn trùng đã xua tan
Jetvāna maccuno senaṃ = đã chiến thắng ma quân của tử thần
viharāmi anāsavā’’ti = ta trú không lậu hoặc

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Sớ giải đề cập điều Ác ma nói liên quan tới một quãng đời đầy nước mắt trước khi xuất gia của thánh ni Kisāgotamī vốn là một phụ nữ có đứa con trai duy nhất chết vì bạo bệnh. Vị nầy ôm xác con đi nhiều nơi mong tìm một thần y cãi tử hoàn sinh đứa con yêu quý của mình nhưng vô vọng. Cuối cùng nàng tìm đến Đức Phật được Bậc Đạo Sư khai thị bằng lời dạy nếu tìm được ít hạt cải trong nhà nào chưa từng có người thân chết thì sẽ cứu được hài nhi. Hột cải thì có nhiều nhưng không ai chưa từng có thân nhân chết. Nàng tỉnh ngộ chôn xác con rồi xuất gia. không lâu chúng thánh quả.

Theo Sớ giải hai câu Accantam mataputtāmhi / Purisā etadantikā nên hiểu trong ý nghĩa liên đới: chẳng màng chuyện con cái nên chuyện tìm kiếm đàn ông cũng chẳng còn.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

 

-ooOoo-