BÀI HỌC HẰNG NGÀY

    Thứ Hai, 11 tháng 04, 2022

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 27. Tứ Diệu Đế, Hiểu Theo Cái Nhìn Toàn Diện

Một trong những điều đáng tiếc khi học về từ diệu đế là chỉ trích một điểm rồi giải rộng. Thí dụ như người ta nghĩ Phật pháp dạy “Đời là khổ”. Nói như vậy rất dễ đưa đến kết luận Phật giáo là bi quan yếm thế. Phải hiểu rõ đau khổ được định nghĩa như thế nào và được giảng cùng với những pháp nào. Giống như trường hợp trích lời một vị thầy thuốc nói rằng bệnh trạng nghiêm trọng chưa đủ để nói về ý vị y sĩ muốn nói gì mà còn phải nói đầy đủ về triệu chứng, sự chữa trị và sự hồi phục khả dĩ. Bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài pháp đầu tiên của Đức Phật với những ý nghĩa liên đới mật thiết về Tứ Diệu Đế. Tất cả người học Phật đều cần nắm vững ý nghĩa tứ đế qua bài kinh nầy trước khi có những phân tích sâu rộng hơn.

Kinh Chuyển Pháp Luân
Dhammacakkappavattanasutta

Evaṃ me sutaṃ
Ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ
viharati isipatane migadāye. Tatra kho
bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi

Như vầy tôi nghe
Một thời Thế Tôn ngự tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðức Phật giảng cho năm thầy Tỳ khưu nghe như vầy:

Dveme bhikkhave antā pabbajitena na
sevitabbā. Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhalli kānuyogo
hīno gammo poṭhujjaniko anariyo anatthasañhito.
Yo cāyaṃ attakilamathānu yogo dukkho anariyo
anatthasañhito. Ete te bhikkhave ubho
ante anupagamma majjhimāpaṭipadā tathāgatena
abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya
abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati

Nầy các Tỳ khưu, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh: một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục luỵ, phàm phu, không thánh thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh thiện, không lợi lạc lại khổ đau.

Từ bỏ hai cực đoan nầy, Như Lai thực hành Trung Ðạo chứng đạt pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.

Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā
tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī
ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya
nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo. Seyyathīdaṃ: sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo
sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi ayaṃ kho sā bhikkhave majjhimā paṭipadā tathāgatena
abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati

Nầy các Tỳ khưu, Trung Ðạo đó là gì?
Chính là thánh đạo tám chi phần: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là thánh đạo được Như Lai liễu ngộ với pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết bàn.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ:
jātipi dukkhā jarāpi dukkhā maraṇampi dukkhaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā
appiyehi sampayogo dukkho piyehi vippayogo dukkho
yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ saṅkhittena
pañcupādānakkhandhā dukkhā. Idaṃ kho pana
bhikkhave dukkhasamudayo ariyasaccaṃ yāyaṃ taṇhāponobbhavikā nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī.
Seyyathīdaṃ: kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodho ariyasaccaṃ yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo
paṭinissaggo mutti anālayo. Idaṃ kho panabhikkhave
dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ ayameva
ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo seyyathīdaṃ: sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo
sammāvācā sammākammanto sammāājīvo
sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.

Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về sự khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, ghét phải gần là khổ, thương phải xa là khổ, muốn không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.

Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về nhân sanh khổ: khát ái dẫn đến tái sanh, cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó đây. Chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về diệt khổ: yểm ly đọan diệt các dục, chấm dứt hệ luỵ, không còn dư y, hoàn toàn giải thoát mọi thằng thúc.

Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về con đường dẫn đến diệt khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave
pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi
ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko
udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ
pariññeyyanti me bhikkhave pubbe ananussutesu
dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā
udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho
panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññātanti me
bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi
āloko udapādi.

"Ðây là sự thật về khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế cần được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Khổ đế đã được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.

Idaṃ dukkhasamudayo ariyasaccanti me bhikkhave
pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi
ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko
udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo
ariyasaccaṃ pahātabbanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ
udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo
ariyasaccaṃ pahīnanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ
udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

"Ðây là sự thật về nhân sanh khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế cần được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Tập đế đã được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.

Idaṃ dukkhanirodho ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesucakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ
udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi
Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ
sacchikātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu
dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho
panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikatanti
me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu
cakkhuṃudapādi ñāṇam udapādi paññā udapādi
vijjā udapādi āloko udapādi.

"Ðây là sự thật về diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế cần được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Diệt đế đã được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.

Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi
ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko
udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī
paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ
udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi

"Ðây là sự thật về con đường diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế cần được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế đã được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu triệt.

Yāvakīvañca me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evanti parivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ
ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi, neva tāvāhaṃ
bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya
anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho
paccāññāsiṃ yato ca kho me bhikkhave imesu
catūsu ariyasaccesu evanti parivattaṃ dvādasākāraṃ
yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi
athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho
paccāññāsiṃ ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi
akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni
punabbhavoti

Nầy các Tỳ khưu, cho đến khi nào bốn diệu đế nầy chưa được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển thì Như Lai không tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy các Tỳ khưu, chính khi bốn diệu đế nầy được Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển nên Như Lai tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Và nhận thức nầy khởi lên trong Như Lai: sự giải thoát của ta không lay chuyển. Ðây là kiếp chót, không còn luân hồi nữa.

Idamavoca bhagavā attamanā pañcavaggiyā bhikkhū
bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ imasmiñca pana
veyyākaraṇasmiṃ bhañña-māne āyasmato koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi
yaṅkiñci samudayadhammaṃ sabbantaṃ
nirodhadhammanti.

Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ khưu hoan hỷ tín thọ. Khi pháp thoại nầy được tuyên thuyết, Tôn giả Kon Ðan Nha khởi sanh pháp nhãn thanh tịnh vô cấu hiểu rằng: phàm vật gì do nhân tập khởi tất cả pháp ấy đều bị hoại diệt.

Pavattite ca bhagavatā dhammacakke bhummā devā
saddamanussāvesuṃ etambhagavatā bārāṇasiyaṃ
isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ
pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena
vā devena vā mārena vā brāhmuṇā vā kenaci vā
lokasminti bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā cātummahārājikā devā saddamanussāvesuṃ cātummahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ tāvatiṃsānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā
yāmā devā saddamanussāvesuṃ yāmānaṃ devānaṃ
saddaṃ sutvā tusitā devā saddamanussāvesuṃ
tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā nimmānaratī devā
saddamanussāvesuṃ nimmānaratīnaṃ devānaṃ
saddaṃ sutvā paranimmitavasavattī devā
saddamanussāvesuṃ paranimmitavasavattīnaṃ
devānaṃ saddaṃ sutvā brahmakāyikā devā
saddamanussāvesuṃ etambhagavatā bārāṇasiyaṃ
isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ
pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena
vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā
lokasminti.

Khi đức Phật chuyển Pháp luân nầy thì chư thiên trên địa cầu reo mừng: Pháp luân vi diệu! Những điều nầy chưa bao giờ được giảng dạy bởi bất cứ ai dù là sa môn, bà la môn, chư thiên, ma vương, phạm thiên nay được Thế Tôn tuyên thuyết tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðược nghe vậy chư thiên cõi tứ thiên vương, đạo lợi, dạ ma, đấu suất, hoá lạc, tha hoá tự tại cùng các cõi phạm thiên đồng thanh vui mừng.

Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva brahmalokā
saddo abbhuggachi. Ayañca dasasahassī lokadhātu
saṅkampi sampakampi sampavedhi. Appamāṇo ca
olāro obhāso loke pāturahosi atikkammeva devānaṃ
devānubhāvaṃ. Atha kho bhagavā udānaṃ udānesi
Aññāsi vata bho koṇḍañño Aññāsi vata bho
koṇḍaññotiItihidaṃ āyasmato koṇḍaññassa
aññākoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.

Trong phút chốc cả mười ngàn thế giới chấn động. Một hào quang vô lượng vượt xa hào quang của chư thiên chiếu diệu cùng khắp thế giới.
Ngay khi ấy đức Phật lên tiếng: Kon Ðan Nha đã liễu ngộ, Kon Ðan Nha đã liễu ngộ. Từ ấy Tôn giả Kon Ðan Nha được gọi là An Nha Kon Ðan Nha.

(Còn tiếp)

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

-ooOoo-