BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 13 tháng 04, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG V. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI ,(S.i,131)  

Bài 5. Kinh Uppalavaṇṇā (Uppalavaṇṇāsuttaṃ) -NỘI MA CHẲNG CÒN XÁ GÌ NGOẠI CHƯỚNG.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

         

Ác ma muốn làm chư tỳ khưu ni kinh động với những đặc điểm thường có ở nữ nhân: sự dính mắc với sắc đẹp, sự yếu đuối, sự đe doạ từ bên ngoài khi một mình nơi vắng vẻ. Với một thánh ni đã thành tựu viên mãn cả hai phương diện tâm giải thoát và tuệ giải thoát thì những điều đó chẳng ảnh hưởng gì. Thánh ni Uppalavaṇṇā nói rõ những điều Ma nói thuộc ngoại giới trong lúc tận cùng nội tại đã khéo tu, khéo chứng đắc thì ma chướng bên ngoài vô nghĩa.

Kinh Văn:

Sāvatthinidānaṃ.

Tại Sāvatthi.

Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā...pe... aññatarasmiṃ supupphitasālarukkhamūle aṭṭhāsi.

Vào buổi sáng tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đắp y…..và đứng dưới gốc cây sāla  trổ đầy hoa.

Atha kho māro pāpimā uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena uppalavaṇṇā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uppalavaṇṇaṃ bhikkhuniṃ gāthāya ajjhabhāsi –

Rồi Ác ma muốn làm tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā run sợ, hốt hoảng, kinh khiếp, rời xa thiền định  đã đến gần và nói lên kệ ngôn: 

‘‘Supupphitaggaṃ upagamma bhikkhuni,
Ekā tuvaṃ tiṭṭhasi sālamūle;
Na catthi te dutiyā vaṇṇadhātu,
Bāle na tvaṃ bhāyasi dhuttakāna’’nti.

Sao Sư cô một mình
Dưới cội sāla nở
Với mỹ mạo vô song
Chẳng sợ sao nàng khờ?

Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘ko nu khvāyaṃ manusso vā amanusso vā gāthaṃ bhāsatī’’ti? Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘māro kho ayaṃ pāpimā mama bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṃ bhāsatī’’ti.

Tỷ khưu ni Uppalavaṇṇā tự nghĩ: "Ai đã nói lên kệ ngôn này? Người hay phi nhân?" Tỷ khưu ni Uppalavaṇṇā xét thấy: "Chính Ác ma muốn khiến ta run sợ, hốt hoảng, kinh khiếp để từ bỏ thiền định đã nói lên lời ấy".

Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī ‘‘māro ayaṃ pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāhi paccabhāsi –

Tỷ khưu ni Uppalavaṇṇā biết được: "Ðấy là Ác ma", liền nói kệ ngôn:

‘‘Sataṃ sahassānipi dhuttakānaṃ, Idhāgatā tādisakā bhaveyyuṃ;
Lomaṃ na iñjāmi na santasāmi, Na māra bhāyāmi tamekikāpi.
‘‘Esā antaradhāyāmi, kucchiṃ vā pavisāmi te;
Pakhumantarikāyampi, tiṭṭhantiṃ maṃ na dakkhasi.
‘‘Cittasmiṃ vasībhūtāmhi, iddhipādā subhāvitā;
Sabbabandhanamuttāmhi, na taṃ bhāyāmi āvuso’’ti.

Trăm ngàn kẻ cám dỗ
Có tới đây như người
Không khiến ta kinh động
Xá gì một mình ngươi!
Ta có thể tàng hình
Đi tới lui trong bụng
Hay đứng giữa hàng mi
Ngươi cũng không thấy được
Với tâm đã điều phục
Khéo tu pháp thần túc
Ta thoát mọi buộc ràng
Không sợ ngươi đâu Bạn!

Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ vijayā bhikkhunī’’ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.

Ác ma biết được: "Tỷ khưu ni Uppalavaṇṇā đã biết ta” phiền muộn và thất vọng biến mất ngay chỗ ấy.

Thích Văn

‘‘Supupphitaggaṃ upagamma bhikkhuni Ekā tuvaṃ tiṭṭhasi sālamūle = Hỡi tỳ khưu ni đang đứng một mình dưới cội cây sāla nở đầy hoa.
Na catthi te dutiyā vaṇṇadhātu = Nhan sắc nàng không có người thứ hai (sánh bằng)
Bāle na tvaṃ bhāyasi dhuttakāna’’nti = Nàng dại khờ kia chẳng sợ những kẻ sàm sở sao?
‘‘Sataṃ sahassānipi dhuttakānaṃ = Trăm ngàn kẻ trêu ghẹo
Idhāgatā tādisakā bhaveyyuṃ = Có đến đây như thế
Lomaṃ na iñjāmi na santasāmi = không động được cọng lông hay gây hoảng sợ
Na māra bhāyāmi tamekikāpi = Nói gì một mình Ác ma có thể khiến ta sợ hãi.
‘‘Esā antaradhāyāmi = ta có thể tàng hình
kucchiṃ vā pavisāmi te = hay đi vào bụng ngươi
Pakhumantarikāyampi = đứng giữa hàng mi ngươi
tiṭṭhantiṃ maṃ na dakkhasi = Ngươi cũng không thấy ta
‘‘Cittasmiṃ vasībhūtāmhi = Ta đã làm chủ tâm ý
iddhipādā subhāvitā = khéo tu pháp thần túc
Sabbabandhanamuttāmhi = thoát khỏi tất cả trói buộc
na taṃ bhāyāmi āvuso’’ti = Ta không sợ ngươi đâu hỡi Bạn!

Thích Nghĩa:

Thánh ni Uppalavaṇṇā được Đức Phật xác chứng là đệ nhất thần thông trong hàng ni chúng đệ tử Phật.

Cây sāla là một loại cây thuộc họ dầu. Đức Thế Tôn đản sanh và viên tịch dưới cội sāla. Có nhiều ngộ nhận về cây nầy. Trước hết, đây không phải là cây đầu lân hay canonball tree thường được hiểu.

Bốn thần túc - iddhipāda - là bốn pháp có hiệu năng thành tựu thiền định và thân thông gồm dục thần túc, cần thần túc, tâm thần túc, thẩm thần túc. (Đôi khi cũng dịch là bốn pháp như ý túc)

Cây sala chính thống

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Cay-sala.jpg

Hoa đầu lân

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Hoa-dau-lan.jpg

Cây tala

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Cay-tala.jpg

Ở Việt Nam còn gọi cây đầu lân là cây tha la, một cách đọc trại của sāla

Nhiều bản dịch cũng ngộ nhận cây sāla với cây tāla (ta la). Cây tāla là một loại cây cọ (palm tree) thường chỉ cho cây thốt nốt (palmyra palm) với đặc tính là nếu chặt ngang thân thì sẽ không bao giờ mọc lại được. Cây nầy hoàn toàn khác với cây sāla.

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

 

-ooOoo-