|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 18 tháng 04, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 27. Tứ Diệu Đế, Hiểu Theo Cái Nhìn Toàn Diện
Một trong những điều đáng tiếc khi học về từ diệu đế là chỉ
trích một điểm rồi giải rộng. Thí dụ như người ta nghĩ Phật
pháp dạy “Đời là khổ”. Nói như vậy rất dễ đưa đến kết luận
Phật giáo là bi quan yếm thế. Phải hiểu rõ đau khổ được định
nghĩa như thế nào và được giảng cùng với những pháp nào.
Giống như trường hợp trích lời một vị thầy thuốc nói rằng
bệnh trạng nghiêm trọng chưa đủ để nói về ý vị y sĩ muốn nói
gì mà còn phải nói đầy đủ về triệu chứng, sự chữa trị và sự
hồi phục khả dĩ. Bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài pháp đầu
tiên của Đức Phật với những ý nghĩa liên đới mật thiết về Tứ
Diệu Đế. Tất cả người học Phật đều cần nắm vững ý nghĩa tứ
đế qua bài kinh nầy trước khi có những phân tích sâu rộng
hơn. Kinh
Chuyển Pháp Luân
--Dhammacakkappavattanasutta--
Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ viharati
isipatane migadāye. Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū
āmantesi.
Như vầy tôi nghe
Một thời Thế Tôn ngự tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra
Na Si. Ðức Phật giảng cho năm thầy Tỳ khưu nghe như vầy:
Dveme bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā. Yo cāyaṃ
kāmesu kāmasukhalli kānuyogo hīno gammo poṭhujjaniko anariyo
anatthasañhito.
Yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasañhito.
Ete te bhikkhave ubho ante anupagamma majjhimāpaṭipadā
tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī
ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya
saṃvattati.
Nầy các Tỳ khưu, có hai cực đoan mà bậc xuất gia phải tránh:
một là lợi dưỡng vốn hạ liệt, tục luỵ, phàm phu, không thánh
thiện, không lợi lạc; hai là khổ hạnh cũng không thánh
thiện, không lợi lạc lại khổ đau.
Từ bỏ hai cực đoan nầy, Như Lai thực hành Trung Ðạo chứng
đạt pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết
bàn.
Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā tathāgatena
abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya
sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo. Seyyathīdaṃ: sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā
sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi
ayaṃ kho sā bhikkhave majjhimā paṭipadā tathāgatena
abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya
sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Tỳ khưu, Trung Ðạo đó là gì?
Chính là thánh đạo tám chi phần: chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh
niệm, chánh định. Ðây là thánh đạo được Như Lai liễu ngộ với
pháp nhãn, tuệ giác, tịnh trí, thắng trí, giác ngộ, niết
bàn.
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ: jātipi dukkhā
jarāpi dukkhā maraṇampi dukkhaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkha appiyehi
sampayogo dukkho piyehi vippayogo dukkho yampicchaṃ na
labhati tampi dukkhaṃ saṅkhittena pañcupādānakkhandhā
dukkhā. Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhasamudayo ariyasaccaṃ
yāyaṃ taṇhāponobbhavikā nandirāgasahagatā
tatratatrābhinandinī.
Seyyathīdaṃ:
kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā. Idaṃ kho pana bhikkhave
dukkhanirodho ariyasaccaṃ yo tassāyeva taṇhāya
asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo. Idaṃ kho
panabhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathīdaṃ: sammādiṭṭhi
sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo
sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về sự khổ: sanh là khổ, già
là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ,
ghét phải gần là khổ, thương phải xa là khổ, muốn không được
là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về nhân sanh khổ: khát ái
dẫn đến tái sanh, cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó
đây. Chính là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về diệt khổ: yểm ly đọan
diệt các dục, chấm dứt hệ luỵ, không còn dư y, hoàn toàn
giải thoát mọi thằng thúc.
Nầy các Tỳ khưu, đây là diệu đế về con đường dẫn đến diệt
khổ: chính là thánh đạo tám chi phần tức chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định.
Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu
dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā
udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ
pariññeyyanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu
cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi
āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ
pariññātanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu
cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi
āloko udapādi.
"Ðây là sự thật về khổ" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
"Khổ đế cần được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
"Khổ đế đã được lãnh hội" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
Idaṃ dukkhasamudayo ariyasaccanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā
udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ
dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahātabbanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā
udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ
dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahīnanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā
udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
"Ðây là sự thật về nhân sanh khổ" là điều mà Như Lai chưa
từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác
chứng và thấu triệt.
"Tập đế cần được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng
được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và
thấu triệt.
"Tập đế đã được đoạn diệt" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
Idaṃ dukkhanirodho ariyasaccanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu
dhammesucakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ
udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi
Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ
sacchikātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu
dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā
udapādi āloko udapādi. Taṃ kho
panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikatanti
me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu
cakkhuṃudapādi ñāṇam udapādi paññā udapādi
vijjā udapādi āloko udapādi.
"Ðây là sự thật về diệt khổ" là điều mà Như Lai chưa từng
được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và
thấu triệt.
"Diệt đế cần được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng
được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và
thấu triệt.
"Diệt đế đã được chứng ngộ" là điều mà Như Lai chưa từng
được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và
thấu triệt.
Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me bhikkhave
pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi
paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi. Taṃ kho panidaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabbanti me
bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi
ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko
udapādi. Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī
paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ
udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
"Ðây là sự thật về con đường diệt khổ" là điều mà Như Lai
chưa từng được nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu,
xác chứng và thấu triệt.
"Ðạo đế cần được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
"Ðạo đế đã được tu tập" là điều mà Như Lai chưa từng được
nghe nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng và thấu
triệt.
Yāvakīvañca me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evanti
parivaṭṭaṃ
dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ
ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi, neva tāvāhaṃ
bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake
sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya
anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho
paccāññāsiṃ yato ca kho me bhikkhave imesu
catūsu ariyasaccesu evanti parivattaṃ dvādasākāraṃ
yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi
athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya
anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho
paccāññāsiṃ ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi
akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni
punabbhavoti.
Nầy các Tỳ khưu, cho đến khi nào bốn diệu đế nầy chưa được
Như Lai hoàn toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển thì
Như Lai không tự nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm
thiên giới, hội chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân
loại rằng ta đã chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nầy các Tỳ khưu, chính khi bốn diệu đế nầy được Như Lai hoàn
toàn giác ngộ với ba luân, mười hai chuyển nên Như Lai tự
nhận cùng thiên giới, ma vương giới, phạm thiên giới, hội
chúng sa môn, bà la môn, chư thiên và nhân loại rằng ta đã
chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Và nhận thức nầy khởi lên trong Như Lai: sự giải thoát của
ta không lay chuyển. Ðây là kiếp chót, không còn luân hồi
nữa.
Idamavoca bhagavā attamanā pañcavaggiyā bhikkhū
bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ imasmiñca pana
veyyākaraṇasmiṃ bhañña-māne āyasmato koṇḍaññassa virajaṃ
vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi
yaṅkiñci samudayadhammaṃ sabbantaṃ
nirodhadhammanti.
Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, năm thầy Tỳ khưu hoan hỷ
tín thọ. Khi pháp thoại nầy được tuyên thuyết, Tôn giả Kon
Ðan Nha khởi sanh pháp nhãn thanh tịnh vô cấu hiểu rằng:
phàm vật gì do nhân tập khởi tất cả pháp ấy đều bị hoại
diệt.
Pavattite ca bhagavatā dhammacakke bhummā devā
saddamanussāvesuṃ etambhagavatā bārāṇasiyaṃ
isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ
pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena
vā devena vā mārena vā brāhmuṇā vā kenaci vā
lokasminti bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā cātummahārājikā
devā saddamanussāvesuṃ cātummahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ
sutvā tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ tāvatiṃsānaṃ devānaṃ
saddaṃ sutvā
yāmā devā saddamanussāvesuṃ yāmānaṃ devānaṃ
saddaṃ sutvā tusitā devā saddamanussāvesuṃ
tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā nimmānaratī devā
saddamanussāvesuṃ nimmānaratīnaṃ devānaṃ
saddaṃ sutvā paranimmitavasavattī devā
saddamanussāvesuṃ paranimmitavasavattīnaṃ
devānaṃ saddaṃ sutvā brahmakāyikā devā
saddamanussāvesuṃ etambhagavatā bārāṇasiyaṃ
isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ
pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena
vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā
lokasminti.
Khi đức Phật chuyển Pháp luân nầy thì chư thiên trên địa cầu
reo mừng: Pháp luân vi diệu! Những điều nầy chưa bao giờ
được giảng dạy bởi bất cứ ai dù là sa môn, bà la môn, chư
thiên, ma vương, phạm thiên nay được Thế Tôn tuyên thuyết
tại Lộc Uyển, ở I Si Pa Ta Na gần Ba Ra Na Si. Ðược nghe vậy
chư thiên cõi tứ thiên vương, đạo lợi, dạ ma, đấu suất, hoá
lạc, tha hoá tự tại cùng các cõi phạm thiên đồng thanh vui
mừng.
Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva brahmalokā
saddo abbhuggachi. Ayañca dasasahassī lokadhātu
saṅkampi sampakampi sampavedhi. Appamāṇo ca
olāro obhāso loke pāturahosi atikkammeva devānaṃ
devānubhāvaṃ. Atha kho bhagavā udānaṃ udānesi.
Aññāsi vata bho koṇḍañño Aññāsi vata bho
koṇḍaññotiItihidaṃ āyasmato koṇḍaññassa
aññākoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.
Trong phút chốc cả mười ngàn thế giới chấn động. Một hào
quang vô lượng vượt xa hào quang của chư thiên chiếu diệu
cùng khắp thế giới.
Ngay khi ấy đức Phật lên tiếng: Kon Ðan Nha đã liễu ngộ, Kon
Ðan Nha đã liễu ngộ. Từ ấy Tôn giả Kon Ðan Nha được gọi là
An Nha Kon Ðan Nha. (Còn tiếp) Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình |