|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 22 tháng 04, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ I. PHẨM SONG ĐỐI (YAMAKAVAGGA)
I.
Kệ
số 7&8_ Phẩm Song Đối
Duyên sự:
Hai bài kệ (số 7 và số 8) nầy được đức Phật thuyết khi
Ngài trú tại khu rừng Siṃsapā
ở Setabya, do câu chuyện của hai sư huynh đệ Mahākāḷa và Cūlakāḷa.
Trong thành
Setabya có ba anh em nhà thương buôn, người
anh cả Mahākāḷa và người em út Cūlakāḷa thường đi tứ xứ để buôn hàng hoá, còn người em thứ
Majjhimakāḷa thì
ở nhà trông coi việc bán hàng.
Ngày kia, hai anh em thương gia Mahākāḷa
và Cūlakāḷa đi buôn đến thành Sāvatthi. Những
ngày dừng chân ở đó thương gia Mahākāḷa có dịp được nghe đức Phật thuyết pháp phát tâm xuất gia
bèn giao lại cho người em tất cả các xe hàng hoá để xuất gia
theo đức Phật nhưng Cūlakāḷa không chịu và cũng theo anh xuất gia luôn.
Sau khi thọ đại giới, người anh thì chuyên cần tu tập
thiền định, ngụ nơi mộ địa quán tử thi (đề mục bất tịnh),
nhanh chóng chứng quả A la hán với sáu thắng trí. Còn người
em thì biếng nhác không tu tập nên không thành tựu được gì.
Ít lâu sau đó đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành rời Sāvatthi đi đến Setabya, và dừng chân trú tại rừng Siṃsapā
ở ngoại thành Setabya.
Gia quyến của tôn giả Cūlakāḷa nghe tin đức Phật và chúng tỳ kheo đã về Setabya bèn cử người đi đến thỉnh
đức Phật và chư Tăng về nhà thọ thực. Cūlakāḷa xin về
nhà ngày trước để chỉ bảo người nhà chuẩn bị đón tiếp đức
Phật và Tăng chúng. Các bà vợ củ của tôn giả Cūlakāḷa đã không theo sự chỉ bảo mà còn áp đảo tôn giả xả y hoàn
tục nữa. Sáng hôm sau Cūlakāḷa cùng gia quyến cung đón đức Phật và chư Tăng đến nhà thọ
thực.
Gia quyến của tôn giả Mahākāḷa thấy vậy cũng cung thỉnh đức Phật và chúng tỳ kheo hôm sau về nhà cúng
dường, họ nghĩ sẽ bắt tôn giả Mahākāḷa về. Nhưng một tỳ kheo khác được cử đến chỉ bảo công việc
trai Tăng nên họ không có cơ hội.
Hôm sau, đức Phật và chư Tăng đến nhà thọ trai, xong đức
Phật dạy tôn giả Mahākāḷa ở lại để thuyết pháp chúc phúc cho thân
quyến.
Chư tỳ kheo về đến chổ ngụ mới bàn tán việc Cūlakāḷa bị gia quyến uy hiếp hoàn tục, nay sẽ đến tôn giả Mahākāḷa. Đức Phật trấn an chư tỳ kheo: Cūlakāḷa xuất gia mà biếng nhác không tu tập, tâm yếu kém mới bị
ma uy hiếp, chứ Mahākāḷa đã đoạn trừ mọi lậu hoặc, tâm kiên cố như núi đá thì
phiền não ma không thể uy hiếp. Rồi đức Thế Tôn thuyết hai
bài kệ nầy “subhānupassiṃ viharantaṃ ..v.v..”
Nói
về trưởng lão Mahākāḷa khi đức Phật và chư Tăng ra về, trưởng lão bắt đầu thuyết
pháp phúc chúc cho gia quyến. Các bà vợ củ chất vấn và bao
vây áp đảo Ngài phải xả y hoàn tục. Trưởng lão dùng thần
thông biến mất và hiện ra đảnh lễ đức Thế Tôn. Chánh văn:
Subhānupassiṃ viharantaṃ
Thích văn:
subhānupassiṃ [đối cách số ít của danh từ hợp thể
subhānupassī “subha + anupassī)]
người nhìn cái đẹp, thấy thân là đẹp, thấy đời là đẹp.
Việt văn:
Người sống nhìn tịnh tướng
(pc 8)
Chuyển văn:
Māro ve subhānupassiṃ viharantaṃ indriyesu
asaṃvutaṃ bhojanamhi amattaññuṃ kusītaṃ hīnaviriyaṃ taṃ
pasahati vāto iva dubbalaṃ rukkhaṃ.
Thật
sự, ma sẽ uy hiếp người mà sống nhìn vẻ đẹp, không phòng hộ
các căn, không biết tiết độ trong ăn uống, lười biếng và
thiếu tinh tấn, ví như cuồng phong thổi ngã cây yếu ớt vậy.
Na māro ve asubhānupassiṃ viharantaṃ
indriyesu susaṃvutaṃ bhojanamhi mattaññuṃ saddhaṃ
āraddhaviriyaṃ taṃ pasahati vāto iva selaṃ pabbataṃ.
Chắc chắn ma sẽ không uy hiếp được người mà sống quán bất
mỹ, khéo phòng hộ các căn, ăn uống biết tiết chế, có niềm
tin, có sự chuyên cần, ví như gió không lay động được ngọn
núi đá.
Lý giải:
Có năm thứ ma (māra):
(1) ngũ uẩn ma
(khandhamāra), (2) Thắng hành ma (abhisaṅkhāramāra), (3) Tử thần
ma (maccumāra),
(4)
Phiền
não ma (kilesamāra), (5) Thiên ma (devaputtamāra).
Māra
(ma) dùng trong hai
bài kệ 7 và 8 là nói đến thứ phiền não ma (kilesamāra),
căn bản bất
thiện là tham, sân, si.
Trong hai bài kệ nầy có điều được nói đến là subhānupassiṃ (người nhìn
tịnh tướng) và asubhānupassiṃ (người quán bất tịnh). Người sống nhìn tịnh tướng là thấy
thân nầy là đẹp, cuộc sống nầy là đẹp, ngũ dục là hấp dẫn.
Người sống quán bất tịnh là niệm tưởng đề mục bất mỹ, đề mục
tử thi. Đức Phật thuyết kệ ngôn như thế hợp với ngữ cảnh, vì
đề cập tới hai lối sống của hai huynh đệ xuất gia; Người anh
là tôn giả Mahākāḷa chuyên tu tập thiền quán niệm tử thi ở tha ma mộ địa
(quán bất tịnh, quán bất mỹ) được chứng A la hán; còn người
em là Cūlakāḷa
thì không tinh tấn tu tập nên tâm phàm tục
dễ bị sa ngã.
Do đó, nên hiểu rằng dù tu tập bất cứ đề mục nào, thân
quán niệm xứ, hay thọ quán niệm xứ, hay tâm quán niệm xứ,
hay pháp quán niệm xứ, nếu nhiệt tâm chánh niệm tỉnh giác
đều có thể chứng đắc đạo quả cả, và khi đạt đến níp bàn rồi
thì các bậc lậu tận không còn bị phiễn não ma uy hiếp nữa,
ví như ngọn núi hay tảng đá lớn không bị cuồng phong lay
động.
Còn một vị xuất gia mà không tinh tấn tu tập pháp môn gì,
tâm thả theo các cảnh trần, thích ăn uống ngủ nghĩ, tâm
người ấy trở thành yếu đuối như lau sậy dể bị gió thổi ngã,
phiền não ma sẽ dể dàng xâm nhập và tấn công vị ấy. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |