|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 23 tháng 04, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG V. TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI ,(S.i,134)
Bài
9. Kinh Selā (Selāsuttaṃ)
-KHI BẬC THÁNH CA NGỢI BẬC THÁNH.
Có những luận
điểm thoạt nghe rất giản dị nhưng không thể trả lời nhanh
gọn mà cần phân tích rõ ràng. Ở đây nói về người tạo nghiệp
và người gặt quả là hai hay một. Câu trả lời theo Phật Pháp
không phải là hai mà cũng chẳng là một. Đó là một tiến trình
sanh hoá tiếp nối theo dòng sanh diệt. Khi tạo tác thì năm
uẩn khác khi gặt quả thì năm uẩn khác. Dù khác nhưng vẫn
cùng trong một dòng sanh diệt. Thí dụ như sữa trong cái tô
đựng. Buổi sáng sữa tươi đến buổi chiều hoá thành sữa có vị
chua. Không thể nói là hai vì cùng là sữa trong tô. Cũng
không thể nói là một vì đã biến chất. Bảo rằng là hai hay là
một đều không hợp cách mà phải nói theo giáo lý duyên khởi:
cái nầy sanh thời cái kia sanh tao nên dòng hiện hữu.
Sāvatthinidānaṃ. Atha kho selā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā...pe... aññatarasmiṃ rukkhamūle divāvihāraṃ
nisīdi. Atha kho māro pāpimā selāya bhikkhuniyā bhayaṃ
chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo...pe... selaṃ
bhikkhuniṃ gāthāya ajjhabhāsi –
‘‘Kenidaṃ pakataṃ bimbaṃ, kvanu bimbassa kārako;
Kvanu bimbaṃ samuppannaṃ, kvanu bimbaṃ nirujjhatī’’ti.
Tại Sāvatthi.
Vào buổi sáng Tỳ khưu ni Selā
đắp y…..... tĩnh toạ dưới một gốc cây .
Rồi Ác ma muốn làm tỳ khưu ni Selā run sợ, hốt hoảng, kinh
khiếp, rời xa thiền định, đã
đến gần và nói lên kệ ngôn:
Ai tạo huyễn thể nầy?
Atha kho selāya bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘ko nu khvāyaṃ
manusso vā amanusso vā gāthaṃ bhāsatī’’ti? Atha kho selāya
bhikkhuniyā etadahosi – ‘‘māro kho ayaṃ pāpimā mama bhayaṃ
chambhitattaṃ lomahaṃsaṃ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo
gāthaṃ bhāsatī’’ti. Atha kho selā bhikkhunī ‘‘māro ayaṃ
pāpimā’’ iti viditvā māraṃ pāpimantaṃ gāthāhi paccabhāsi –
‘‘Nayidaṃ attakataṃ bimbaṃ, nayidaṃ parakataṃ aghaṃ;
Tỷ khưu ni Selā tự nghĩ: "Ai đã nói lên kệ ngôn này? Người
hay phi nhân?"
Tỷ khưu ni Selà biết
được: "Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hốt hoảng, kinh khiếp, rời xa
thiền định", liền nói kệ ngôn:
Huyễn thể không tự tạo
Atha kho māro pāpimā ‘‘jānāti maṃ selā bhikkhunī’’ti dukkhī
dummano tatthevantaradhāyīti.
Ác ma biết được: "Tỷ khưu ni
Selā đã biết ta” phiền muộn và thất vọng biến mất
ngay chỗ ấy.
‘‘Kenidaṃ pakataṃ bimbaṃ = Ai tạo huyễn thể nầy?
Theo Từ Điển Danh Từ Đặc Hữu Pāli thì Thánh ni Selā còn được
gọi là Alavikā vì là công chúa con vua vua xứ Alavi. Ngài
Bodhi thì cho rằng điều nầy có phần thiếu cơ sở và những kệ
ngôn nầy không tìm thấy trong Trưởng Lão Ni Kệ. Chữ bimba nguyên nghĩa là con rối, bù nhìn ở đây dịch là huyễn
thể. Theo Sớ giải thì cả hai chữ huyễn thể (bimba) và hệ luỵ
(agha) ở đây đều chỉ cho tự hữu (attabhava) hay sự tồn tại
của mỗi chúng sanh. Những triết gia và giáo thuyết thời Đức Phật tại thế thường có
tranh luận về quan điểm “đau khổ do mình tạo (attakata) hay
do người khác tạo (parakata. Quan niệm đau khổ “mình làm
mình chịu” có nghĩa là người tạo quả và người gặt quả là
một. Đây là quan điểm theo thường kiến. Ngược lại cái nhìn
khổ do hoàn cảnh hay ngẫu nhiên không do nhân quả là quan
điểm đoạn kiến. Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |