|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 24, tháng 04, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMACHƯƠNG IX. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) Bài 73. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) (tiếp theo)
·
Các vấn đề liên quan đến Chỉ nghiệp xứ
(1) Nghiệp xứ phân theo tánh nết
Có sáu loại tánh nết (carita, cariyā):
1. Tánh ái (rāgacarita) là người sống nặng về tình
cảm, ham thích, tham đắm, ái luyến.
2. Tánh sân (dosacarita) là người nóng tính, dễ giận
dữ, dễ nổi quạu, cộc cằn, thô lỗ ...
3. Tánh si (mohacarita) là người đờ đẫn, chậm hiểu,
không thông minh.
4. Tánh tín (saddhācarita) là người dễ tin, dễ phát
khởi niềm tin, dễ xu hướng.
5. Tánh giác (buddhicarita) là người có trí, thông
minh, sống thiên về lý trí, biết suy nghĩ cân nhắc.
6. Tánh tầm (vitakkacarita) là người hay nghĩ ngợi,
nói nhiều và nói lạc đề, hay bỏ dở công việc đang làm, thiếu
sự tập trung.
Hành giả trước khi tu tiến thiền định cần phải chỉnh sửa
tánh nết cho chánh hướng, nếu không rõ sẽ trở ngại sự tiến
tu chứng đắc thiền.
1. Người có tánh ái nặng cần phải khắc phục bằng cách quán
niệm 10 đề mục bất mỹ (asubha) tức niệm tử thi và
quán thân hành niệm (kāyagatāsati) tức niệm thể
trược.
2. Người có tánh sân nặng cần phải khắc phục bằng cách tu
tập 4 phạm trú (brahmavihāra), và 4 biến xứ màu
(vaṇṇakasiṇa) là xanh, vàng, đỏ, trắng.
3. Người có tánh si và tánh tầm, cả hai tánh nết này cần
khắc phục bằng cách niệm hơi thở hay nhập xuất tức niệm
(ānāpānassati). Người tánh si và tánh tầm, tâm lơ lãng,
không tập trung do phóng dật, hoài nghi và suy tầm, nên cách
chú ý vào hơi thở ra vô luyện tâm tập trung rất hiệu quả.
4. Người có tánh tín, nếu không khéo an lập niềm tin chánh
tín sẽ sanh ra mê tín, cuồng tín. Nên phải chỉnh đốn bằng
cách tu tập 6 tùy niệm (anussati) là niệm phật, niệm
pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí và niệm thiên. Khi đó
tâm hành giả chỉ khởi lên niềm tin tam bảo và tin các thiện
hạnh thôi.
5. Người có tánh giác hay tánh thông minh, nếu không khéo tư
duy sẽ dẫn đến lý luận, biện luận và tranh luận vô ích, nên
phải chấn chỉnh bằng cách suy nghĩ về sự chết hay niệm tử
(maraṇānussati), suy nghĩ về níp bàn hay niệm tịch tịnh
(upasamānussati), suy tưởng nhờm gớm vật thực
(āhāre_ paṭikūlasaññā), và suy tư phân biệt tứ đại
(catudhātuvavaṭṭhāna). Khi hành giả tư duy về các đề tài
vi tế thâm sâu như vậy, trí tuệ được khơi dậy chánh hướng.
Sau khi đã sửa chữa tánh nết thích nghi với tâm lý tu
tập, hành giả mới bắt đầu tu tiến theo bất cứ đề mục nào
trong 40 đề mục. Nói như vậy có nghĩa là không có sự cấm kỵ
nào cho hành giả tu tiến nghiệp xứ khi mà hành giả đã khắc
phục được nhược điểm tánh nết; Hơn nữa, sự phân loại đề mục
theo tánh nết là ý kiến của các vị giáo thọ, trong kinh luật
chánh tạng không có nói đến.
(2) Nghiệp xứ phân theo giai đoạn tu tiến
Có ba giai đoạn tu tiến (bhāvanā):
1. Bước chuẩn bị (parikammabhāvanā) là giai đoạn tu
tập khởi đầu sắp đặt đề mục, dán tâm
trên đề mục để làm quen. Nhất hành tâm (ekaggatacetasika)
ở giai đoạn chuẩn bị này gọi là sát na định
(khaṇikasamādhi).
Bốn mươi nghiệp xứ (đề mục chỉ) đều bước qua giai đoạn khởi
sự tu tập nầy, tức là bước tu chuẩn bị (parikammabhāvanā).
2.
Bước tu cận hành (upacārabhāvanā) là giai đoạn tu tập
đề mục thuần thục hơn, tiến gần thiền định, cận kề với sự
đắc chứng. Nhất hành tâm (ekaggatācetasika) ở giai
đoạn hai này gọi là cận định (upacārasamādhi).
Bốn mươi chiếu kiến nghiệp xứ được tu tập nghiêm mật sẽ bước
qua giai đoạn cận định này; Nhưng trong đó có
10
đề mục tu tập chỉ đạt đến cận định là đỉnh cao, tức là 8 tùy
niệm (niệm phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí,
niệm thiên, niệm tử, niệm tịch tịnh), 1 tưởng nhờm gớm vật
thực, 1 phân biệt tứ đại. Còn 30 đề mục khác thì không dừng
lại ở cận định mà tiến xa hơn nữa, tức là bước qua giai đoạn
chứng thiền định.
3.Bước tu tiến an chỉ (appanābhāvanā) là giai đoạn
chứng đắc thiền định. Các tâm đổng lực đáo đại
(mahaggatājavana) và đổng lực siêu thế
(lokuttarajavana) gọi là đổng lực an chỉ hay đổng lực
kiên cố (appanājavana); Nếu tu tiến với chỉ nghiệp xứ
(samathakammaṭṭhāna) thì đắc thiền (jhāna) hay
đổng lực đáo đại; nếu tu tiến với quán nghiệp xứ
(vipassanākammaṭṭhāna) thì đắc đạo quả (maggaphala)
hay đổng lực siêu thế.
Trong bốn mươi đề mục (chỉ nghiệp xứ), có 30 đề mục đạt tới
chứng thiền hay an chỉ định (appanāsamādhi), là 10 đề
mục biến xứ (kasiṇa), 10 đề mục bất mỹ (asubha),
4 đề mục phạm trú (brahmavihāra), 1 đề mục thân hành
niệm (kāyagatāsati), 1 đề mục nhập xuất tức niệm
(ānāpānassati), và 4 đề mục vô sắc (āruppa).
(3)
Nghiệp xứ phân theo
thiền
chứng
Có 30 đề mục đưa đến chứng thiền hay an chỉ định, trong đó
có những đề mục chứng thiền sắc giới, có những đề mục chứng
thiền vô sắc giới, có những đề mục chỉ chứng sơ thiền, có
những đề mục chứng bốn thiền sắc giới thọ hỷ, có đề mục chỉ
chứng ngũ thiền sắc giới. Như sau:
-
10 đề mục biến xứ (kasiṇa) và đề mục nhập xuất tức
niệm (ānāpānassati), là 11 đề mục chứng năm bậc thiền
sắc giới.
-
10 đề mục bất mỹ (asubha) và đề mục thân hành niệm
(kāyagatāsati), là 11 đề mục chỉ chứng sơ thiền sắc
giới.
-
3 đề mục phạm trú (brahmavihāra):
từ
(metta), bi (karuṇā), hỷ (muditā). Là 3
đề mục chỉ chứng sắc giới sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và
tứ thiền.
-
1 đề mục xả phạm trú (upekkhābrahmavihāra) chỉ chứng
sắc giới ngũ thiền.
-
4 đề mục vô sắc (ārupā),
là 4 đề mục chứng thiền vô sắc giới (arūpajhāna).
(4)
Ba ấn chứng tu thiền (bhāvanānimitta)
Có 3 ấn chứng (nimitta) khởi lên khi tu tiến
nghiệp xứ:
1.
Ấn chứng sơ khởi, hay sơ tướng (parikammanimitta) là
ấn tượng đề mục được ghi nhận vào giai đoạn ban đầu của
thiền, giai đoạn tu tiến, chuẩn bị tu tiến
(parikammabhāvanā). Tất cả đề mục khi khởi sự tu tập đều
là ấn chứng sơ khởi.
2.
Ấn chứng khắc ghi hay thủ tướng (uggahanimitta) là đề
mục hiện rõ trong tâm sau khi niệm sơ tướng sâu đậm.
Thí dụ sơ tướng đề mục đất (paṭhavīkasiṇa), hành giả
nhìn chăm chú đĩa đãi đất tròn đến lúc nhập tâm dù mắt nhắm
lại vẫn hiện ra màu sắc của đĩa đất tròn; cảnh đề mục được
ghi nhớ ấy gọi là thủ tướng (uggahanimitta). Ấn chứng
này vẫn còn trong giai đoạn tu tiến chuẩn bị
(parikammabhāvanā) và cũng khởi lên cho tất cả đề mục.
3. Ấn chứng tái hiện, hay tợ tướng (paṭibhāganimitta),
khi định tiến bộ, tại thời điểm ấy thủ tướng
(uggahanimitta) thay đổi thành tướng sáng chói, rõ ràng
và vững vàng. Tướng sáng chói ấy tợ như sơ tướng nên gọi là
tợ tướng (paṭibhāganimitta), nhưng nó sáng hơn, rõ
hơn nhiều lần so với sơ tướng (parikammanimitta) và
thủ tướng (uggahanimitta). Tợ tướng hoàn toàn không
có những khiếm khuyết tỳ vết. Thí dụ đề mục biến xứ đất. Khi
đạt đến tợ tướng thì những khuyết điểm như mặt đất sần sùi,
lằn nứt, tỳ vết… không còn nữa. Ngay khi tợ tướng hay ấn
chứng này phát sanh thì hành giả đạt đến cận định
(upacārasamādhi) bước vào giai đoạn tu tiến cận hành
(upacārabhāvanā). Tợ tướng không hình thành đối với 18
đề mục là 8 tùy niệm đầu, 4 phạm trú, yểm tưởng vật thực,
phân biệt tứ đại. Tợ tướng có thể xuất hiện với 22 đề mục là
10 biến xứ, 10 bất mỹ, 1 thân hành niệm, và 1 nhập xuất tức
niệm.
(5)
Sự chứng đắc sơ thiền
Hành giả chăm chú trên tợ tướng (paṭibhāganimitta),
tiếp tục niệm – niệm đề mục cho đến khi tợ tướng ấy được
vững trú và được làm cho lan tỏa thì lúc ấy đạt đến cận hành
định (upacārasamādhi)
khiến năm triền cái (nīvaraṇa) lắng yên; Hành giả đạt
đến an chỉ định hay kiên cố định (appanāsamādhi) sơ
thiền với năm chi thiền hiện khởi là
tầm,
tứ, hỷ,lạc, và nhất hành.
(6)
Sự chứng thiền thứ hai và cao hơn
Hành giả đã chứng đắc sơ thiền muốn chứng nhị thiền cần phải
có năm pháp tự tại (vasī hay vasitā) là:
1.
Hướng tâm tự tại (āvajjanavasī) tức là thuần thục
trong việc hướng tâm đến chi thiền đã chứng, hướng tâm dễ
dàng, không khó khăn.
2.
Nhập thiền tự tại (samāpajjanavasī) tức là thuần thục
trong việc nhập định với thiền đã chứng, nhập định bất cứ
lúc nào mình muốn, không khó khăn.
3.
Trú thiền tự tại (adhiṭṭhānavasī) tức là quyết định
an trú trong thiền ấy bao lâu tùy ý muốn.
4.
Xuất thiền tự tại (vuṭṭhānavasī) tức là thuần thục
trong trong việc xuất khỏi định đúng thời gian đã trù tính.
5.
Phản kháng tự tại (paccavekkhanavasī) tức là thuần
thục trong việc xét lại chi thiền của tầng thiền đã chứng.
Khi hành giả có năm pháp tự tại đối với sơ thiền, tu tiến ly
tầm (vitakkavirāgabhāvanā),
nhìn vào tính thô thiển của tầm (vitakka), loại bỏ
tầm, chứng và trú nhị thiền. Tầng thiền thứ hai chỉ có bốn
chi thiền là tứ, hỷ, lạc và nhất hành.
Tiếp đến, hành giả phát triển năm pháp tự tại (vasī)
đối với nhị thiền, nhìn vào tính thô thiển của tứ
(vicāra), loại bỏ tứ, tu tiến ly tứ
(vicāravirāgabhāvanā), chứng và trú tam thiền, trạng
thái thiền chỉ còn ba chi là hỷ, lạc và nhất hành.
Hành giả tiếp tục hát triển năm pháp tự tại (vasī)
đối với tam thiền, nhìn vào tính thô thiển của hỷ (pīti),
loại trừ hỷ, tu tiến ly hỷ (pītivirāgabhāvanā), chứng
và trú tứ thiền, một trạng thái thiền chỉ còn hai chi là lạc
và nhất hành.
Và rồi, hành giả phát triển năm pháp tự tại (vasī)
đối với tứ thiền, thấy được tính thô thiển của lạc
(sukha), loại trừ chi lạc, trú thiền thứ năm chỉ có hai
chi thiền là xả và nhất hành.
Không dừng lại ở đây, hành giả phát triển năm pháp tự tại
(vasī) đối với ngũ thiền sắc giới, vị ấy nhập và xuất
ngũ thiền sắc giới với chín đề mục biến xứ (ngoại trừ hư
không biến xứ, ākāsakasiṇa), xét thấy những
khuyết điểm của sắc pháp (rūpa) để không dính mắc vào
sắc pháp, rồi hướng tâm đến sự tĩnh lặng tinh tế của vô sắc.
Trước hết, hành giả chú tâm vào không gian (ākāsā) và
niệm “Ākāso
ananto
... ākāso ananto ... Hư không vô biên.... hư không vô
biên”. Đó là chuẩn bị tu tiến (parikammabhāvanā). Khi
vị ấy tiếp tục niệm “hư không vô biên”, vượt qua sắc tưởng,
không còn mảy may sự khao khát thiền sắc giới, hành giả đạt
đến cận hành tu tiến (upacārabhāvanā).
Hành giả tiếp tục
niệm đề mục không vô biên một cách nghiêm mật sẽ đạt đến an
chỉ tu tiến (appanābhāvanā), như vậy gọi là chứng đắc
đệ nhất thiền vô sắc không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana).
Kế đến, hành giả làm cho tinh thục đệ nhất thiền vô sắc bằng
năm pháp tự tại (vasī), rồi chú tâm đến “thiền không
vô biên xứ” thấy rằng tâm thiền này là không cùng tận và
niệm: “thức là vô biên, thức là vô biên”, đây là bước chuẩn
bị tu tiến (parikammabhāvanā) cho thiền thứ hai. Khi
niệm thức vô biên đã nhập tâm, không còn vương vấn thiền
không vô biên nữa, vị ấy đạt đến cận hành tu tiến
(upacārabhāvanā). Tiếp tục trú niệm và vươn tới an chỉ
tu tiến (appanābhāvanā) chứng đắc đệ nhị thiền vô
sắc, gọi là thiền thức vô biên xứ (viññānañcāyatana).
Thế rồi, khi đã tinh thục bằng năm pháp tự tại (vasī)
đối với nhị thiền vô sắc, hành giả bước vào giai đoạn chuẩn
bị tu tiến cho thiền thứ ba, thấy không có gì là thức vô
biên. Hành giả niệm: “không có gì, không có gì” và đạt đến
cận hành tu tiến với đề mục vô sở hữu xứ. Từ cận hành, vị ấy
đạt đến an chỉ tu tiến, chứng đắc đệ tam thiền vô sắc, gọi
là thiền vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana).
Cuối cùng hành giả sau khi tinh thục thiền vô sắc thứ ba,
chuẩn bị tu tiến với đệ tứ thiền vô sắc bằng cách lấy tâm
thiền vô sở hữu xứ làm cảnh. Thầm niệm “tâm này an tịnh, tâm
này tinh lương” (santametaṃ, paṇītametaṃ) cho đến khi
đạt cận hành tu tiến
…
rồi đạt tới an chỉ tu tiến, chứng đắc đệ tứ thiền vô sắc gọi
là thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ
(nevasaññānāsaññāyatana).
Thiền chứng với chỉ nghiệp xứ (samathakammaṭṭhāna) có
hai loại tâm: thiền thiện (kusalajhānacitta) và thiền
tố (kiriyājhānacitta). Hành giả phàm tam nhân và
thánh hữu học tu chỉ nghiệp xứ sẽ chứng tâm thiền thiện; Bậc
A la hán tu chỉ nghiệp xứ sẽ chứng tâm thiền tố, hoặc vị ấy
tu chứng thiền thiện rồi sau đó đắc A la hán sẽ chuyển thành
thiền tố.
(7)
Năng lực siêu nhiên của thiền định
Năng lực siêu nhiên, hay còn gọi là thắng trí, thần
thông (abhiññā).
Khi hành giả đã đắc chứng thiền sắc giới
(rūpāvacarajhāna) và thiền vô sắc giới
(arūpāvacarajhāna), với tâm thuần tịnh, nhu nhuyến, dễ
sử dụng, vị ấy hướng tâm đến các năng lực siêu nhiên và
thành tựu thần thông dựa trên mười đề mục biến xứ
(kasina).
Có 5 loại thần thông hiệp thế:
1.
Biến hóa thông (Iddhividha) là năng lực hóa ra những
vật theo ý muốn, hoặc biến ra nhiều thân, hoặc đi trên hư
không, đi ngang mặt nước, đi xuyên qua núi, qua tường, độn
thổ
..vv..
2.
Thiên nhĩ thông (dibbasota) là năng lực nghe được
những âm thanh thô tế, gần xa
…
Mà người thường không nghe được. Như tiếng nói chư thiên, ma
quỉ
..vv..
3.
Tha tâm thông (cetopariyañāṇa
hay paracittavijānana) là
năng lực biết tâm của người khác, hiểu được ý nghĩ của người
khác nghĩ gì.
4. Túc mạng thông (pubbenivāsānussati)
là năng lực nhớ được các đời sống quá khứ của mình, từng nét
đại cương và chi tiết.
5. Thiên nhãn thông (dibbacakkhu)
là
năng lực thấy
được
cảnh sắc vi tế hay ở xa hoặc bị giấu kín. Thiên nhãn thông
còn bao gồm khả năng thấy biết sự chết và tái sanh tuỳ duyên
nghiệp của chúng sanh, gọi là sanh tử trí (cutūpapātañāṇa)
hay
Tuỳ nghiệp sở vãng trí (yathākammūpagañāṇa).
Thêm
nữa, thiên nhãn thông còn là khả năng tiên tri những điều sẽ
xảy ra ở tương lai, gọi là vị lai phần trí (anāgataṃsañāṇa).
Mặc
dù nói rằng hành giả phải chứng đắc thiền sắc giới và thiền
vô sắc giới mới thành tựu năng lực thần thông, là vì khi
chứng thiền như vậy tâm mới thuần tịnh nhu nhuyến. Nhưng cụ
thể là hành giả phải tu chứng năm thiền sắc giới với mười đề
mục biến xứ (kasiṇa),
rồi
nhập ngũ thiền sắc giới làm nền tảng (pādakapañcamajhāna),
xuất
thiền cơ mới hiện thông. Đây là phương thức.
(còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |