|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 27 tháng 04, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,136)
Bài
1. Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh (Brahmāyācanasuttaṃ)
-THÔNG ĐIỆP CỦA HY VỌNG.
Bài kinh nầy ghi
lại một sự kiện quan trọng đối với nhân loại, đối với tất cả
chúng sanh khi Đấng Giác Ngộ chính thức xác định khởi sự
công cuộc hoằng hoá độ sanh. Ngay sau khi thành đạo có những
thời khắc mà Đức Phật với vô biên trí quán chiếu sự thậm
thâm vi diệu đối với pháp
Ngài giác ngộ. Chỉ riêng sự tương phản giữa ái chấp
trầm nịch và ly tham tịch tịnh niết bàn quả thật không dễ
dàng để thuyết phục chúng sanh đi ngược dòng. Trong phút
chốc ngắn ngủi Đức Thiện Thệ hướng tâm đến an tịnh không
thuyết pháp. Do đại sự nhân duyên, Phạm thiên Sahampatti đã
xuất hiện thỉnh cầu Phật hoằng hoá độ sanh. Ngay sau đó, Đức
Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát chúng sanh trong đời. Điểm
đầu tiên Ngài nhận thấy có sự khác biệt. Có kể nặng lòng
trần cũng có người tâm cao khiết. Có chúng sanh huệ căn thấp
cũng có người thông tuệ. Có chúng sanh ý thức được phần nào
hệ luỵ của kiếp trầm luân sanh tử. Trong nhận định, Đức Phật
cũng có hình ảnh tỷ giảo như hoa sen trong nước. Có mầm còn
trong bùn; có cây đã mọc trong nước, cũng có những cành sen
vươn khỏi mặt hồ. Ngài nhận thấy khả tính giác ngộ của chúng
sanh và tuyên bố cửa bất tử được rộng mở. Đó là thông điệp
của hy vọng. Cũng là lời hứa khả của Đấng Từ Tôn.
Evaṃ me sutaṃ –
ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre
ajapālanigrodhamūle paṭhamābhisambuddho. Atha kho bhagavato
rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘‘adhigato kho myāyaṃ dhammo
gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro
nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā
ālayasammuditā.
Ālayarāmāya
kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṃ idaṃ
ṭhānaṃ yadidaṃ idappaccayatāpaṭiccasamuppādo. Idampi kho
ṭhānaṃ duddasaṃ yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho
sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ.
Ahañceva kho pana dhammaṃ deseyyaṃ; pare ca me na ājāneyyuṃ;
so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’’ti.
Tôi được nghe như vầy:
Thưỏ ấy Đức Thế Tôn trú tại Uruvelā cạnh bờ sông Nerañjarā
dưới gốc cây Đa Của Những Người Chăn Dê không lâu sau khi
thành đạo.
Bấy giờ trong lúc độc cư tịnh mặc, ý nghĩ sau đây khởi lên
nơi Đức Thế Tôn:
Pháp nầy do ta liễu ngộ thật thâm sâu, khó thấy, khó hiểu,
an tịnh, cao cả, vượt ngoài lý luận, tế nhị, chỉ có thể lãnh
hội bởi người trí. Chúng sanh đa phần ưa thích vướng mắc,
vui trong vướng mắc, đam mê trong vướng mắc. Rất khó để
chúng sanh hiểu được duyên khởi trong định lý y tương sinh.
Thật không dễ dàng để lãnh hội sự đình chỉ các hành,
từ bỏ tất cả sở y, đọan tận ái chấp, ly tham, tịch tịnh niết
bàn. Nếu ta giảng giải Chân Pháp mà không có người lãnh hội
thì thật là vất vả, phiền luỵ cho ta.
Apissu bhagavantaṃ imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṃsu pubbe assutapubbā
Rồi thi tứ sau đây, vốn chưa từng có trước kia, được Đức Thế
Tôn nói lên:
Quá đủ để cố gắng tuyên thuyết
Từ ý nghĩ như vậy Đức Thế Tôn hướng về an tịnh, không muốn
thuyết giảng.
Atha kho brahmuno sahampatissa bhagavato cetasā
cetoparivitakkamaññāya etadahosi – ‘‘nassati vata bho loko,
vinassati vata bho loko, yatra hi nāma tathāgatassa arahato
sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṃ namati [namissati
(?)], no dhammadesanāyā’’ti. Atha kho brahmā sahampati –
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ [sammiñjitaṃ (sī.
syā. kaṃ. pī.)] vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ
samiñjeyya evameva – brahmaloke antarahito bhagavato purato
pāturahosi. Atha kho brahmā sahampati ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ
karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṃ pathaviyaṃ nihantvā yena
bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘desetu, bhante, bhagavā dhammaṃ, desetu sugato dhammaṃ.
Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa
parihāyanti. Bhavissanti dhammassa aññātāro’’ti. Idamavoca
brahmā sahampati, idaṃ vatvā athāparaṃ etadavoca –
‘‘Pāturahosi magadhesu pubbe,
Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm mình biết được tâm của Đức
Thế Tôn khởi lên suy tư: Ôi thế giới sẽ mất mát, ôi thế giới
sẽ hoại vong nếu tâm của Đức Như Lai, bậc Ứng cúng, đấng
Chánh Đẳng Chánh Giác hướng về an tịnh, không thuyết giảng
chánh pháp.
Rồi Phạm thiên Sahampati, nhanh như người luyện tập thể hình
co duỗi cánh tay, biến mất ở cõi phạm thiên hiện ra trước
Đức Thế Tôn. Vị ấy đắp thượng y một bên vai, quỳ chân phải,
chấp tay cung kính hướng về Đức Thế Tôn bạch rằng:
Bạch Thế Tôn xin hãy thuyết pháp. Bạch Thiện Thệ xin hãy
thuyết pháp. Có những chúng sanh với ít bụi trần trong mắt
sẽ sa đoạn nếu không được nghe Chánh Pháp. Sẽ có những chúng
sanh lãnh hội được diệu pháp.
Phạm thiên Sahampati bạch như vậy rồi nói lên kệ ngôn:
Xưa người Magadha
Atha kho bhagavā brahmuno ca ajjhesanaṃ viditvā sattesu ca
kāruññataṃ paṭicca buddhacakkhunā lokaṃ volokesi. Addasā kho
bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento satte apparajakkhe
mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre
suviññāpaye duviññāpaye, appekacce
paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na
paralokavajjabhayadassāvine [dassāvino (sī. syā. kaṃ. pī.)]
viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā
puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā
puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni
anto nimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā
puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni samodakaṃ
ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā
udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakā accuggamma ṭhitāni
[tiṭṭhanti (sī. syā. kaṃ. pī.)] anupalittāni udakena;
evameva bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasa satte
apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriyemudindriye svākāre
dvākāre suviññāpaye duviññāpaye, appekacce
paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na
paralokavajjabhayadassāvine viharante. Disvāna brahmānaṃ
sahampatiṃ gāthāya paccabhāsi –
‘‘Apārutā tesaṃ amatassa dvārā,
Đức Thế Tôn nhận biết lời thỉnh cầu của Phạm thiên. Ngài
dùng Phật nhãn quan sát thê gian với tâm bi mẫn. Với tầm
nhìn, Ngài thấy có hạng chúng sanh
ít nhiễm bụi trần, có hạng phủ đầy bụi bẩn. có hạng lợi căn,
có hạng độn căn; có hạng tầm thường, có hạng cao thượng; có
hạng nan giáo, có hạng dễ thuần hoá; một số ít thấy được hệ
luỵ của sanh tử. Giống
như hồ sen nhiều màu với sen xanh, sen đỏ, sen trắng. Có
những mầm sen còn trong bù, có những cây sen đã lớn trong
nước, có những sen đã trồi lên khỏi mặt nước không bị thấm
ướt. Cũng vậy chúng sanh trong đời có hạng ít nhiễm bụi
trần, có hạng phủ đầy bụi bẩn. có hạng lợi căn, có hạng độn
căn; có hạng tầm thường, có hạng cao thượng; có hạng nan
giáo, có hạng dễ thuần hoá; một số ít thấy được hệ luỵ của
sanh tử.
Sau khi quán sát như vậy, Ngài đã trả lời cho Phạm thiên
Sahampatti với kệ ngôn
Thấy vậy, Ngài trả lời cho Phạm thiên Sahampati với những
bài kệ:
Cửa bất tử rộng mở
Atha kho brahmā sahampati ‘‘katāvakāso khomhi bhagavatā
dhammadesanāyā’’ti bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā
tatthevantaradhāyīti.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được: "Lời thỉnh cầu hoằng
pháp của ta đã được Đức Thế Tôn chấp thuận", đãnh lễ Thế
Tôn, thân bên phải hướng về Ngài và biến mất.
Buddhacakkhu -
Phật nhãn - ở đây đặc biệt chỉ cho khả năng nhận diện căn cơ
của chúng sanh. Đức Phật được xem xem là bậc có “năm con
mắt”. Bốn mắt khác là tuệ nhãn
(samantacakkhu). Pháp nhãn (dhammacakkhu),
thiên nhãn (dibbacakkhu) và nhục nhãn
(mamsacakkhu),
Paralokavajjabhayadassāvino = thấy được sự sợ hãi và
khiếm khuyết trong thế giới khác có nghĩa là ý thức được hệ
luỵ của sự tái sanh.
Katāvakāso kho
’mhi bhagavatā dhammadesanāya – Ta đã tạo được duyên
sự thỉnh Phật thuyết pháp - được hiểu là Phạm thiên biết Đức
Phật nhận lời hoằng hoá độ sinh.
Theo Luật Tạng sự kiện nầy xẩy ra sau bảy tuần lễ kể từ khi
Đức Thế Tôn thành đạo.
Theo Sớ giải thì có những thông lệ mà tất cả chư Phật toàn
giác đều giống nhau như khi đản sanh, chuyển pháp luân, niết
bàn đều có lời cầu thỉnh vì đó là những đại sự nhân duyên.
(Thỉnh Phật chuyển pháp luân cũng xem là hạnh nguyện lớn
trong văn hoá Phật giáo Đại Thừa) Sự
tương phản lớn giữa mê chấp nịch ái và ly tham niết bàn
chính là điều khiến Đức Thế Tôn tự vấn có nên thuyết pháp
bời vì đi ngược lại khuynh hướng cố hữu của chúng sanh.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |