|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 02 tháng 04, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ IX. PHẨM ÁC (Pāpavagga) (Gồm 13 bài kệ với 12 duyên sự) - Kệ số 11 (dhp 126)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại chùa Jetavana ở
thành Sāvatthi, do câu chuyện của trưởng lão Tissa và người
thợ mài ngọc.
Trưởng lão Tissa là vị A la hán. Trưởng lão được hộ độ bởi
gia đình người thợ mài ngọc trong thành Sāvatthi, suốt mười
hai năm Ngài chỉ thọ thực tại gia đình ấy. Trong nhà thợ mài
ngọc có nuôi con chim Diệc đã thuần hoá nó đi lại tự do. Một
hôm, vào buổi sáng Trưởng lão như lệ thường đi đến nhà của
người thợ mài ngọc để thọ trai. Người thợ mài ngọc đang làm
thức ăn tay dính vật thực bước ra đón tiếp trưởng lão, vừa
lúc ấy có người tuỳ tùng của vua Pasenadi mang đến một viên
hồng ngọc và truyền lệnh cho anh thợ ngọc mài dủa làm đồ
trang sức cho nhà vua. Anh
thợ mài ngọc tay đang dính bẩn thức ăn nhận lấy viên ngọc
của sứ giả rồi đặt lên trên nắp hộp mới đi vào nhà trong rữa
tay. Ngoài nầy con chim diệc đánh hơi mùi thức ăn bay vào và
thấy trên bàn có viên hồng ngọc tưởng là cục thịt nên nó mổ
lấy nuốt vào bụng, trước mặt vị trưởng lão. Anh
thợ mài ngọc ở trong nhà bước ra để lấy cất viên ngọc thì
không thấy đâu, bèn hỏi vợ con có lấy viên ngọc không? Mọi
người đều trả lời không có. Rối quá, anh ta nghĩ chắc là vị
trưởng lão nầy đã lấy. Anh ta gạn hỏi vị trưởng lão, Ngài
chỉ đáp là không có lấy, chớ Ngài không nói con chim nhà đã
nuốt vì Ngài sợ nó bị giết. Hỏi
năm lần bảy lượt, vị trưởng lão vẫn trả lời như thế. Anh ta
nói với vợ sẽ tra khảo vị trưởng lão; Người vợ can ngăn, anh
ta không nghe. Anh ta dùng dây thừng niền đầu vị trưởng lão
và đánh tra tấn đến thịt rơi máu đỗ. Thọ khổ khốc liệt, vị
trưởng lão ngã nằm dưới đất. Con chim đánh hơi mùi máu chạy
đến uống máu, đang cơn giận, anh thợ mài ngọc tung chân đá
con Diệc văng ra chết liền. Hồi
tỉnh, vị trưởng lão thấy con chim chết rồi, Ngài mới tiết lộ
cho anh thợ mài ngọc biết chính con chim nầy đã nuốt viên
ngọc.
Người thợ mài ngọc liền mổ bụng con chim thấy được viên
ngọc, liền phát run lên, tâm thần bấn loạn, cởi trói cho vị
trưởng lão và quì mọp dưới chân vị trưởng lão xin sám hối
tội lỗi đã nghi oan và làm khổ Ngài.
Ngài trưởng lão tha thứ cho anh ta. Anh thợ mài ngọc khẩn
thỉnh vị trưởng lão hãy tiếp tục đến nhà anh ta để thọ thực. Vị
trưởng lão dứt khoát từ chối, Ngài ra đi, và từ đó nguyện
đầu đà khất thực, không nhận đến nhà cư sĩ thọ thực nữa. Ít
lâu sau, trưởng lão Tissa níp bàn vì bị đánh mang trọng
bệnh. Con chim chết sanh bào thai người. Anh thợ mài ngọc do
tạo ác nghiệp chết sanh vào địa ngục. Người vợ của anh ta vì
có tâm dịu hiền với vị trưởng lão nên được tái sanh thiên
giới. Chư
tỳ kheo biết chuyện trưởng lão bị đánh bèn bạch hỏi đức Phật
về cảnh giới của những người trong việc nầy. Nhân đó, đức
Phật trả lời cho các tỳ kheo về số phận mỗi người, rồi Thế
Tôn thuyết lên bài kệ nầy: “Gabbhaṃ eke uppajjanti ..
parinibbanti anāsavā ’ti”.
Cuối pháp thoại, nhiều vị tỳ kheo đắc thánh quả.
Chánh văn: (dhp 126)
Gabbhaṃ eke uppajjanti Thích văn:
gabbhaṃ [đối cách số ít của danh từ
nam tính gabbha] thai bào, thai sanh. Việt văn:
(pc 126) Một số sanh bào thai
Chuyển văn:
Eke gabbhaṃ uppajjanti pāpakammino nirayaṃ (nibbattanti)
sugatino saggaṃ yanti anāsavā parinibbanti. Một
số sanh vào thai bào, những kẻ ác nghiệp sanh xuống địa
ngục, những người hiền thiện đi đến cõi trời, các bậc Vô lậu
thì viên tịch.
Lý giải: Ý
nghĩa của bài kệ nầy, đức Phật giải thích về số phận của
những nhân vật trong câu chuyện duyên sự. Con chim nuốt viên
ngọc bị người thợ mài ngọc đá chết đã sanh vào bào thai của
vợ người thợ ấy; người thợ mài ngọc nghi oan cho vị thánh
nhân và đánh đập tra tấn, do tạo ác nghiệp nên chết sanh
xuống địa ngục; vợ người thợ ngọc có tâm hiền thiện đã
khuyên ngăn chồng đừng nghi oan cho vị trưởng lão, cô chết
sanh về cõi trời. Riêng về vị trưởng lão là bậc A la hán vô
lậu thì viên tịch không còn tái sanh. Bài
kệ nầy cũng nói lên ý nghĩa tiến trình sanh tử tuỳ theo hạnh
nghiệp riêng mỗi người. Chữ
gabbhaṃ ở đây nên hiểu là thai sanh nhân loại. Mặc
dù thai sanh gồm bào sanh (jalābuja) và noãn sanh
(aṇḍaja). Chúng sanh được sanh cõi nhân loại do
không làm việc ác. Chữ
nirayaṃ mặc dù là cõi địa ngục, nhưng ở đây giải tự
(nira + aya) nghĩa là những cảnh giới bất hạnh,
không có an lạc, gồm địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh và a tu
la. Chúng sanh sinh vào khổ cảnh do tạo ác nghiệp. Chữ
saggaṃ nghĩa là cõi trời, thiên giới, bao gồm cõi
dục giới thiên, cõi sắc giới, phạm thiên và vô sắc giới phạm
thiên. Chúng sanh đi đến thiên giới do nhờ tâm hiền thiện,
có thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh và ý thiện hạnh. Chữ
parinibbanti viên tịch, tịch diệt hoàn toàn, không
còn tái sanh trong tam giới nữa, đây gọi là vô dư y níp bàn.
Chỉ có bậc Lậu tận A la hán mới vô dư níp bàn ./. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |