BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, 03 tháng 04, 2023

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 33. NGHIỆP BÁO-Giá Trị Thực Tiễn Của Sự Hiểu Biết Nghiệp Báo

(VIII) (148) Bố Thí Xứng Bậc Chân Nhân

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm loại bố thí này xứng bậc Chân nhân. Thế nào là năm?

2. Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.

Này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí với lòng tin chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn, đẹp trai, dễ ngó, có thành tín và thành tựu dung sắc thù thắng như hoa sen.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí có cung kính, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các con trai, các bà vợ, các người nô tỳ, các người đưa tin, các người làm công, những người ấy đều sẵn sàng vâng theo người ấy, họ lóng tai và phục vụ với tâm hiểu biết.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí đúng thời, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các vật dụng đến với người ấy đúng thời và sung túc.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí với tâm không gượng ép, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn, và hướng tâm thụ hưởng đầy đủ năm dục công đức.

Và này các Tỷ-kheo, sau khi bố thí không làm thương tổn mình và người, chỗ nào, chỗ nào, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả: Người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và không một tai nạn nào từ đâu đến, đến với tài sản của người ấy, hoặc từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ các người thù địch hay từ các người thừa tự.

Này các Tỷ-kheo, có năm loại bố thí xứng bậc Chân nhân này.

Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp - Bản dịch của HT Thích Minh Châu

Bài học ngày 13.3.2023

NGHIỆP LỰC VÀ XÃ HỘI

Chủ tâm tạo tác không hẳn nằm trong phạm vi cá nhân. Đối với quan niệm của phần đông thì nghiệp và nghiệp lực nằm trong lãnh vực cá nhân như câu: ai ăn nấy no. Điều nầy không hoàn toàn sai nhưng có thể nói cũng không hoàn toàn đúng. Như định nghĩa ban đầu điểm chính yếu của nghiệp là chủ trương tạo tác. Từ đó dẫn đến hành động và hệ quả. Ngày nay người ta càng ngày càng thấy rõ khuynh hướng, tư duy của xã hội tạo nên hiện tượng chung như xả rác bừa bãi, nạn trộm cướp, thảm sát…

Nói đến chủ tâm tạo tác thì phải nói nói là có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Biệt nghiệp là sự tạo tác riêng lẻ của mỗi cá nhân. Cộng nghiệp là sự tạo tác với câu kết bởi một nhóm người, một trào lưu, một xã hội, quốc gia, một thế hệ. Thí dụ phá rừng là sự huỷ hoại môi trường sống của nhiều sinh vật tạo nên nhiều hệ quả nghiêm trọng trực tiếp và gián tiếp. Phá rừng chắc chắn là hành động của những cá nhân nhưng cũng là hậu quả của chính sách bất cập của giới cầm quyền, khuynh hướng tiêu thụ với nhu cầu quá nhiều về gỗ, giấy, xây dựng …. Như vậy trong sự huỷ hoại môi trường sinh thái rõ ràng vừa biệt nghiệp vừa cộng nghiệp.

Dân trí là trình độ của cả một quốc gia có ảnh hướng lớn tới xu thế chung không thể nói là cá nhân. Người ta cũng thấy là ngay cả tại các quốc gia độc tài toàn trị thì sự ủng hộ chiến tranh của dân chúng luôn cần thiết để tạo ra chiến tranh mặc dù sự ủng hộ nầy tác động bởi guồng máy tuyên truyền một chiều. Cho dù bị nhồi nhét thế nào về tư duy nhưng nếu hầu hết dân chúng đều yêu hoà bình, chống chiến tranh thì thảm cảnh bom đạn không tạo ra từ những xứ ấy. Chủ nghĩa phát xít không đơn thuần của riêng Hitler mà đã là một cái nhìn của cả một thế hệ trong một giai đoạn tuy ngắn nhưng gây bao nhiêu đau thương của thế chiến thứ hai.

Hiện tượng cộng nghiệp đôi khi là hình ảnh quá lớn để có thể nhận biết. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật cũng dạy về ảnh hưởng của xã hội loài người với những nhà cai trị và dân chúng có ảnh hưởng đến trào lưu thiện, ác từ đó khiến chư thiên hoan hỷ hay không hoan hỷ, rồi ảnh hưởng đến sự vận hành đúng hay lệch quỹ đạo của các tinh cầu, rồi ảnh hưởng đến thời tiết, rồi ảnh hưởng tới mùa màng, rồi ành hưởng tới chất lượng thực phẩm, rồi ảnh hưởng tới sức khoẻ con người.. (AN III. 267). Điều nầy cho thấy khuynh hướng của đa số quần chúng, hay cộng nghiệp, không thể phủ nhận khi nói về nghiệp lực.

Sự liên hệ giữa cá nhân và xã hội trong cái nhìn và chủ kiến là điều thường xẩy ra. Trong một bài kinh khác, Đức Phật dạy: Này chư Tỳ Khưu, có một người xuất hiện ở đời mang lại bất hạnh cho đa số, mang lại đau khổ cho đa số, mang lại hệ luỵ cho đa số kể cả chư thiên và nhân loại đó là người tà kiến, chấp thủ sai lạc.  Người ấy khiến nhiều người rời xa chánh pháp, rơi vào tà pháp. Nầy chư Tỳ Khưu, có một người xuất hiện ở đời đem lại hạnh phúc cho đa số, lợi lạc cho đa số, thăng tiến cho đa số đó là người có chánh kiến, với sở hành thuận theo chánh pháp. (Tăng Chi Bộ I. 33). Như vậy thì một số cá nhân có ảnh hưởng lớn tác động đến xã hội và từ đó ảnh hưởng lớn đến thiện ác, khổ vui của phần đông. Rất khó tách biệt hoàn toàn giữa cá nhân và xã hội khi nói về nghiệp lực.

Bài học ngày 20.3.2023

NGHIỆP BÁO VÀ LUẬT PHÁP

Nhân quả nghiệp báo đôi khi cũng được hiểu từ niềm tin “làm lành được vui, làm ác bị khổ” dẫn tới cái nhìn “thưởng thiện, phạt ác” và y cứ trên sự “phán xét công minh”. Những điều nầy được xem là nền tảng của tín lý tôn giáo và cũng là cái nhìn của luật pháp hiện hành.  Những ý niệm chồng lấn nầy thường bị ngộ nhận. Người học Phật Pháp cần phân rõ nghiệp báo và nguyên tắc thưởng phạt.

Sự tương quan giữa Pháp (dhamma) và Luật (vinaya) cần được hiểu rõ khi học về lời dạy của Đức Phật. Lối sống của một người có thể y cứ trên Pháp mà không cần biết về luật hoặc ngược lại. Pháp được hiểu là sự thật hay nguyên tắc tự nhiên mà y cứ trên đó một người sống theo được an lạc thí dụ sự quảng đại xả tài là hành động mang lại lợi lạc cho tha nhân và bản thân. Điều nầy chỉ có thể gọi là pháp chứ không thể là một quy định theo luật. Không có một điều luật nào bắt buộc phải bố thí. Ở điểm khác, “không lấy của không được cho” là một học giới được dạy trong cả hai Pháp và Luật.  Pháp lả định luật tự nhiên không giới hạn bởi thời gian, không gian trong lúc Luật là những quy ước áp dụng tuỳ thời tùy xứ. Thí dụ những luật định về y tăng già lê không nhất thiết áp dụng cho tất cả quốc độ. Một số lớn giới luật trong Phật giáo liên hệ tới Pháp nhưng có những điều hoàn toàn là quy định cho trường hợp riêng biệt nào đó mà không nên hiều theo nhân quả thí dụ quy định về việc tắm giặt của chư tỳ khưu.

Luật định y cứ trên cơ sở của phán xét trong lúc nghiệp báo là định lý tự nhiên. Giống như một người trồng lúa được mùa hay thất mùa do những lý do tự nhiên chứ không chỉ do công sức đáng khen hay đáng trách. Một sở hành tạo quả báo chi phối bởi tâm tạo tác, hành động tạo tác, và đối tượng của hành động. Cũng là bố thí cúng dường, cũng là tâm thí và vật thí như nhau nhưng nếu đối tượng thọ nhận là một vị Phật độc giác thì quả rất khác với người tu sĩ bình thường. Sự phán xét trong trong trường hợp nầy rất vô nghĩa. Phật tử Việt Nam, ảnh bởi văn hoá Trung Quốc, thường hiểu nhân quả qua những bản kinh như “Hồi Dương Nhân Quả” mà theo đó khổ vui, siêu đoạ được quyết định bởi Thập Điện Phán Quan trong địa ngục sau khi chết là tín ngưỡng dân gian không có cơ sở trong giáo lý nghiệp báo của Phật Pháp.

Khi nói đến luật định thì phải là một hành động hoàn tất trong lúc điều nầy không hẳn như vậy đối với nghiệp báo. Thí dụ nói về giới sát sanh theo luật thì phải có đủ năm chi phần: đối tượng của hành động phải là chúng sanh có thức tánh, biết chúng sanh có thức tánh, có ý sát hại, ra sức sát hại, đối tượng đã chết vì sự cố sát đó. Trong lúc trên phương diện nghiệp báo một người vui khi thấy người khác sát sanh đã là một sở hành bất thiện đủ tạo quả xấu. Không nên nhầm lẫn giữa Pháp và Luật trong Phật Pháp cũng như không nên nghĩ rằng có sự đồng nhất giữa nghiệp và luật pháp hiện hành. Luật pháp là những quy ước do con người thiết lập không hẳn nói lên sự công minh như là nghiệp báo vốn là định luật tự nhiên được giảng giải bởi Đấng Đại Giác.

Quy luật bù trừ được tìm thấy trong luật pháp không giống với nhân quả theo nghiệp báo. Một vị a la hán vốn tạo rất nhiều phước hạnh ba la mật nhưng vẫn gặt hái những quả tầm thường từ nghiệp quá khứ mới nghe như sự bất công. Trên thực tế thì như một người nấu nồi cơm bằng gạo ngon nhưng trong gạo còn một hạt sạn nhỏ khi nhai cơm làm mẻ răng thì không thể nói theo luật bù trừ cân phân giữa gạo ngon và hạt sạn. Vì quan điểm “nhập nhằng” giữa nhân quả nghiệp báo và sự phán xét nên trong một số tông phái Phật giáo người ta tin rằng một người đã đủ công đức viên thành chánh quả thì không thể bị những quả nghiệp bất thiện. Cái nhìn đó nặng về tư duy thường thức hơn là hiểu chính xác theo Phật Pháp.

Bài học ngày 27.3.2023

NGHIỆP BÁO VÀ VÔ NGÃ

Với người mới bước vào ngưỡng cửa Phật học thì nghiệp báo và vô ngã là hai khái niệm mâu thuẫn. Nghiệp báo dạy về gieo nhân gặt quả, do vậy, nói đến trách nhiệm của hành động. Vô ngã dạy về sự không thực của một bản ngã hằng hữu; nói cách khác là không có cái tôi, cái ta thực hữu. Vậy thì làm thế nào Phật Pháp dạy cả hai điều nầy? . Thực tế thì hai khái niệm nầy không mâu thuẫn mà còn bổ túc cho nhau. Để hiểu rõ điều nầy cần lưu ý một số điểm được đề cập dưới đây.

Tên gọi vốn là giả danh mà cũng là tên thật. Nói đến “ngã” người ta nói đến cá thể có định danh như Ông Nguyễn Văn A hay Bà Trần Thị B. Không có định danh mà chỉ là hiện tượng thì làm sao gọi là “bản ngã”. Điều nầy có thể thí dụ như tên gọi một dòng sông. Dòng sông đó có thượng nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Khi chảy xuyên qua Vân Nam Trung Quốc được gọi là Lang Thưong Giang (Lan Cang Jiāng 瀾滄江). Khi chảy ngang qua Miến Điện, Lào, Thái, Kampuchia thì có tên là Mê Kông. Đến Việt Nam sông nầy còn được gọi là sông Cửu Long. Người ta có thể nói “sông Mê Kông đổ ra Biển Đông” hoặc “sông Cửu Long bắt nguồn từ Tây Tạng”. Hai cách nói nhưng chỉ là một dòng sông. Tên gọi vốn chỉ là quy ước.  Thắng Pháp Abhidhamma gọi quy ước định danh là pháp không thuộc thời gian hay pháp phi thời  (kālavinimutta) vì không nằm trong hiện tượng sanh diệt của pháp thực tính. Thực mà không thực hay tục đế có nghĩa là sự thật của thường thức.

Trong cách nói thường thức (tục đế) được hiểu như có một người gây nhân cũng chính là người gặt quả trong lúc theo cách nói thực tính (chân đế) thì tất cả nằm trong giòng hiện tượng liên tục kết nối. Thí dụ như theo thường tình thì nói: “Devadatta trong kiếp ấy là một người thợ săn tham ác. Vì lòng tham ác mà đả thương con khỉ chúa đã cứu mình một cách tàn nhẫn vô ơn. Sau khi chết Devadatta đã sanh vào địa ngục trong nhiều triệu năm. Trong hiện kiếp sanh lại làm con của vua Suppabuddha”. Đó là cách diễn tả theo tục đế. Theo cách nói của pháp thực tính thì “ái duyên cho hữu, hữu duyên thủ, thủ duyên sanh, sanh duyên lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, ai. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn”.

Khi nói đến bản ngã người ta nói đến khái niệm hằng hữu là cái gì tồn tại không thay đổi theo thời gian thí dụ như một linh hồn bất biến. Đức Phật dạy rõ sự hiện hữu của tất cả chúng sanh là giòng tiếp nối của sanh diệt cả hai phương diện vật lý và tâm lý. Nếu tâm thức là bất biến, là không thể thay đổi thì sự tu tập không có giá trị. Nếu thân tâm luôn sanh diệt biến đổi thì thì không thể nói là hằng hữu.

Để hiểu rõ hơn về vô ngã và nghiệp báo cần chiêm nghiệm kỹ bài kinh dưới đây:

Ðại kinh Mãn nguyệt (Mahàpunnama sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).

Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi một Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.
-- Vậy này Tỷ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và hỏi như ý Ông muốn.
Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản?
-- Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
-- Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?

-- Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ.

-- Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn?

Thế Tôn trả lời:

-- Này Tỷ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỷ-kheo có người nghĩ như sau: "Mong rằng có sắc như thế này trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong tương lai!" Như vậy, này Tỷ-kheo, có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn.

-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn?

-- Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn. Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho đến như vậy, này Tỷ-kheo, là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn.

-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi hành uẩn? Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?

-- Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỷ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn.

-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?

-- Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không hiểu rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không hiểu rõ các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, xem sắc như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có sắc, hay xem sắc như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong sắc; xem thọ như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thọ, hay xem thọ như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thọ; xem tưởng như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có tưởng, hay xem tưởng như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong trưởng; xem hành như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có hành, hay xem hành như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong hành; xem thức như là tự ngã, hay xem tự ngã như là có thức, hay xem có thức như là trong tự ngã, hay xem tự ngã như là trong thức.

-- Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là không thân kiến?

-- Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chơn nhân, thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, tu tập pháp các bậc Chơn nhân, không xem sắc như là tự ngã, hay không xem tự ngã như là có sắc, hay không xem sắc như là trong tự ngã, hay không xem tự ngã như là trong sắc; không xem thọ như là tự ngã...., không xem tự ngã như là trong thọ; không xem tưởng như là tự ngã... , hay không xem tự ngã như là trong tưởng; không xem hành như là tự ngã... , hay không xem tự ngã như là trong hành; không xem thức như là tự ngã... , không xem tự ngã như là trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không thân kiến.

-- Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt của sắc, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thọ, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của tưởng, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của hành, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly? Cái gì là vị ngọt của thức, cái gì là sự nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly?

-- Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên sắc khởi lên, như vậy là vị ngọt của sắc. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong sắc như vậy là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của sắc. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thọ khởi lên, như vậy là vị ngọt của thọ... như vậy là sự xuất ly của thọ. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên tưởng khởi lên, như vậy là vị ngọt của tưởng.... là sự xuất ly của tưởng. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên hành khởi lên như vậy là vị ngọt của hành... là sự xuất ly của hành. Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên thức khởi lên, như vậy là vị ngọt của thức. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong thức, như vậy là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham đối với thức, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của thức.

-- Bạch Thế Tôn, do biết gì, do thấy gì, mà không có mạn tùy miên rằng: "Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm", đối với tự thân có ý thức, và đối với cả tưởng ở ngoài?

-- Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Phàm có thọ gì... tưởng gì... hành gì... phàm có thức gì, quá khứ vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả thức, thấy được như thật với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, nên không có mạn tùy miên rằng: "Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm", đối với tự thân có ý thức, và đối với tất cả tướng ở ngoài.

Rồi một Tỷ-kheo khác khởi lên sự suy tư như sau: "Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?"

Thế Tôn biết được tâm tư của Tỷ-kheo ấy với tâm tư của mình, liền nói với các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Ðạo sư với câu hỏi: "Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?" Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được Ta huấn luyện tìm kiếm nhân duyên, chỗ này chỗ kia, đối với những pháp này, pháp khác.

Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: "Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, thọ...  tưởng... hành... thức là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
-- Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại... tất cả loại sắc, cần phải như thật quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Phàm có thọ gì, phàm có tưởng gì, phàm có hành gì, phàm có thức gì quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại.. tất cả loại thức, cần phải như thật quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.

Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã giải thoát. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn trở lại đời sống thế này nữa".

Trung Bộ, kinh số 109, bản dịch Việt ngữ của HT Thích Minh Châu.

Bài học ngày 3.4.2023

Giá Trị Thực Tiễn Của Sự Hiểu Biết Nghiệp Báo

Giá trị của Phật Pháp nằm ở sự thực tiễn “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc”. Giáo lý nghiệp báo không nằm ngoài phạm vi nầy. Với ảnh hưởng rộng lớn trong dân gian và văn hoá, nghiệp báo thường khi bị hiểu sai như là sự hướng dẫn chấp nhận định mệnh an bài. Sự nhận thức xác thực về nghiệp có tác dụng mạnh mẽ đối với hành động lớn nhỏ trong cuộc sống hằng ngày.

Niềm tin nhân quả giúp con người thay đổi những dị đoan mê tín trong tín ngưỡng dân gian. Khổ vui tạo nên bởi sở hành thiện ác như vậy nếu muốn được an lạc thì cần thiệp pháp trong đời sống hơn là chú trọng những giới cấm thủ hoặc những tin tưởng vào tử vi, phong thuỷ, cúng bái dân gian vốn không thật sự mang lại lợi ích. Nếu học thật kỹ kinh điển sẽ thấy Đạo Phật ngày nay rất khác với Đạo Phật thời Đức Phật tại thế vốn không mang màu sắc của mê tín dị đoan.

Nghiệp báo chỉ rõ làm thế nào thành tựu được những lợi lạc qua hành động cụ thể. Sống với thiện hạnh không phải chỉ tạo quả phước ở tương lai mà với thiện tâm cũng tạo nên phẩm chất an lạc, thanh lương ngay trong hiện tại. Chính tâm lành tạo nên cuộc sống an lành. Một quyển kinh nhỏ nhưng rất phổ cập đó là Kinh Pháp Cú trong Tiểu Bộ với 423 bài kệ do Đức Phật dạy cho chúng ta thấy rõ về vai trò của thiện pháp đối với đời sống an lạc. Đây là giá trị dễ dàng nhận thấy khi học hiểu về nghiệp báo.

Nghiệp báo dạy con người chịu trách nhiệm về hành động của mình. Con người chỉ thật sự trưởng thành khi chịu trách nhiệm về hành bản thân. Điều nầy rất rõ ràng qua giáo lý nghiệp báo. Chính sở hành thiện ác đưa cuộc sống theo nhiều hướng khác nhau. Từ gốc rễ chính là tư niệm (cetanā) dẫn đến hành động rồi tạo quả. Tư niệm là cái gì mà mỗi người phải tự biết và chịu trách nhiệm. Một khi chúng ta không quy trách ai đó về những khổ vui chính mình thì cuộc sống sẽ khác hơn là những than oán tiếp nối từ ngày nầy qua ngày khác.

Nghiệp báo dạy về sự bình đẳng của con người qua những yếu tố nội tại. Chính sự hiểu biết về nghiệp báo giúp chúng ta vượt qua những thiên chấp về giai cấp, bất đồng trong xã hội.  Một khi quay trở về với nội tâm sẽ thấy sự hiển nhiên của gốc rễ an lạc, hạnh phúc là ở chính bên trong chứ không phải là sự hơn thua bên ngoài. Nếu ai cũng có thể huân tập thiện tâm, thiện hạnh thì quan niệm cao thấp của xã hội phải đặt lại. Trong xã hội Ấn Độ, xưa cũng như nay, sự phân chia giai cấp luôn rõ nét. Nhưng khi tất cả vào trong ngôi nhà của giáo pháp thì giống như “nước của muôn sông chảy ra biển cả cùng hoà quyện chỉ còn một vị duy nhất”

Nghiệp báo dạy mỗi người cần hiểu biết nhiều hơn đối với bản thân. Óc tò mò muốn tìm hiểu về thế giới chúng quanh là đặc tính của con người và là yếu tố giúp nhân loại khám phá ra nhiều điểm hữu ích từ thiên nhiên. Nhưng phải nhận rằng phần đông sống hướng ngoại và chỉ một số ích tựn quay về tìm hiểu thân tâm của mình. Học giáo lý nghiệp báo giúp chúng ta khẳng định về sự cần thiết để hiểu biết bản thân. Bởi vì niềm vui nỗi khổ sẽ không thể chọn lựa nếu mơ hồ về nguyên nhân. Càn hiều về nghiệp báo thì con người càng thắp sáng hiểu biết sự tác động của nhân quả qua giòng tâm thức.

Nghiệp báo cho con người niềm hy vọng ở tương lai. Phần đông tương tai thường được nghĩ tới qua mộng tưởng và cầu nguyện. Thực tế phủ phàng thường khiến người ta tuyệt vọng. Ở đâu có niềm tin ở nghiệp báo thì ở đó có niềm tin ở tương lai tốt đẹp với thiện hạnh. Câu Phật ngôn: “Nay vui đời sau vui. Người thiện hai đời vui. Vui việc thiện mình làm. Sanh lạc cảnh vui hơn” là thí dụ điển hình về “thông điệp của hy vọng”.

 

Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-