|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 04 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Gia Chủ (S. ii, 84).
Bài 45. Kinh Tại Ñātika (Ñātikasuttaṃ)
-DUYÊN KHỞI TỪ SÁU GIÁC QUAN.
Thấy, nghe,
ngữi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ là điểm gặp gỡ của căn và
cảnh. Nguyên uỷ của phiền não bắt đầu từ đó mà sự tu tập
cũng bắt đầu từ đó. Người biết tu tập với sự hiểu biết về
duyên khởi sẽ không thấy đau khổ như một ngọn núi bất động
khiến tự thân bất lực. Trái lại sẽ nhìn cuộc sống như những
phân mãnh, và từ đó, có phương cách thích hợp để ứng phó và
tu tập nội tại. Bài kinh nầy một lần nữa cho thấy sự áp dụng
thực tiễn giáo lý duyên khởi vàa đời sống hằng ngày của sự
tu tập. Ở đây quá khứ và tương lai, năng duyên và sở duyên,
nhân và quả nằm trọn trong tầm nhìn của hành giả.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā ñātike viharati
giñjakāvasathe. Atha kho bhagavā rahogato paṭisallāno imaṃ
dhammapariyāyaṃ abhāsi –
‘‘Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. Tiṇṇaṃ
saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā;
taṇhāpaccayā upādānaṃ...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘‘Sotañca paṭicca sadde ca...pe... ghānañca paṭicca gandhe
ca... jivhañca paṭicca rase ca... kāyañca paṭicca phoṭṭhabbe
ca... manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṃ.
Tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā
taṇhā; taṇhāpaccayā upādānaṃ...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Ñātika trong một ngôi nhà gạch.
Bấy giờ trong lúc độc cư thiền tịnh Đức Thế Tôn đã nói lên
pháp nầy:
Tuỳ thuộc vào mắt và cảnh sắc, nhãn thức phát sanh. Sự kết
hợp của ba thành tố gọi là xúc. Do duyên xúc, thọ sanh khởi.
Do duyên thọ, ái sanh khởi. Đây là
tập khởi của toàn bộ khổ uẩn. Tùy thuộc vào mũi và cảnh khí, tỷ thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào lưỡi và cảnh vị, thiệt thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào thân và cảnh xúc, thân thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào ý và cảnh pháp, ý thức phát sanh. Sự kết hợp của ba thành tố gọi là xúc. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên thọ, ái sanh khởi.
Đây là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.
‘‘Cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. Tiṇṇaṃ
saṅgati phasso. Phassapaccayā vedanā; vedanāpaccayā taṇhā.
Tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘‘Sotañca paṭicca sadde ca...pe... manañca paṭicca dhamme ca
uppajjati manoviññāṇaṃ. Tiṇṇaṃ saṅgati phasso. Phassapaccayā
vedanā; vedanāpaccayā taṇhā. Tassāyeva taṇhāya
asesavirāganirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā
bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
nirodho hotī’’ti.
Tuỳ thuộc vào mắt và cảnh sắc, nhãn thức phát sanh. Sự kết
hợp của ba thành tố gọi là xúc. Do duyên xúc, thọ sanh khởi.
Do duyên thọ, ái sanh khởi. Nhưng với sự đoạn diệt hoàn toàn
ái nên thủ đoạn diệt, do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt, do
hữu đoạn diệt nên sanh đoạn diệt, do sanh đoạn diệt già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai đoạn diệt. Đây là sự đoạn diệt
của toàn bộ khổ uẩn. Tùy thuộc vào mũi và cảnh khí, tỷ thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào lưỡi và cảnh vị, thiệt thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào thân và cảnh xúc, thân thức phát sanh … Tuỳ thuộc vào ý và cảnh pháp, ý thức phát sanh. Sự kết hợp của ba thành tố gọi là xúc. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên thọ, ái sanh khởi.
Đây là tập khởi của thế giới. Nhưng
với sự đoạn diệt hoàn toàn ái nên thủ đoạn diệt, do thủ đoạn
diệt nên hữu đoạn diệt, do hữu đoạn diệt nên sanh đoạn diệt,
do sanh đoạn diệt già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai đoạn diệt.
ây là sự đoạn diệt thế giới
.
Đây là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bhagavato upassuti
ṭhito hoti. Addasā kho bhagavā taṃ bhikkhuṃ upassuti ṭhitaṃ.
Disvāna taṃ bhikkhuṃ etadavoca – ‘‘assosi no tvaṃ, bhikkhu,
imaṃ dhammapariyāya’’nti? ‘‘Evaṃ, bhante’’ti. ‘‘Uggaṇhāhi
tvaṃ, bhikkhu, imaṃ dhammapariyāyaṃ; pariyāpuṇāhi tvaṃ,
bhikkhu, imaṃ dhammapariyāyaṃ; dhārehi tvaṃ, bhikkhu, imaṃ
dhammapariyāyaṃ. Atthasaṃhito ayaṃ, bhikkhu, dhammapariyāyo
ādibrahmacariyako’’ti. Pañcamaṃ.
Bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang đứng nghe Thế Tôn.
Thế Tôn thấy vị tỳ khưu đang đứng nghe hỏi rằng:
-- Này Tỳ khưu, có nghe pháp môn này không?
-- Thưa có, bạch Đức Thế Tôn.
-- Này Tỳ khưu, hãy
học pháp môn này. Hãy ghi nhớ và chiêm nghiệm kỷ.
Pháp môn nầy có lợi lạc và liên hệ tới căn bản đời
sống phạm hạnh.
Chú Thích
Ñātika với ngôi nhà
gạch có một số giai thoại được đề cập trong phụ chú các bài
kinh sắp tới.
Chữ dhammapariyāya có nghĩa là cách thức học pháp. Phổ biến
nhất là tụng đọc kinh văn để bản thân được nghe (upassuti).
Cách nầy được thực hành rộng rãi trong ở các tu viện trong
hình thức tụng kinh.
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |