|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 02 tháng 04, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ IX. PHẨM ÁC (Pāpavagga) (Gồm 13 bài kệ với 12 duyên sự) - Kệ số 12 (dhp 127)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana gần thành
Sāvatthi, nhân câu chuyện của ba nhóm tỳ kheo.
Tương truyền, có ba nhóm tỳ kheo từ ba nơi du hành về
Sāvatthi để diện kiến bậc Đạo sư.
Nhóm thứ nhất đi ngang qua một ngôi làng, các vị dừng chân
khất thực trong ngôi làng ấy. Một nhà nọ đang bị hoả hoạn,
có con quạ bay qua bị khói lửa làm mù mắt không thể bay, nó
rớt xuống giữa đám cháy và chết. Các tỳ kheo thấy cảnh ấy,
nghĩ rằng chúng ta sẽ hỏi đức Thế Tôn về ác nghiệp của chúng
sanh nầy.
Nhóm thứ hai, các tỳ kheo nầy đáp thuyền vượt trùng dương,
thuyền đang đi giữa biển bỗng nhiên đứng khựng không chạy
nữa, mọi người trên thuyền cho rằng trong số người đi thuyền
có kẻ xui xẻo, hãy rút thăm để biết ai vận xui. Cả ba lần
bốc thăm, người vợ của thuyền trưởng đều trúng lá thăm số
đen. Mọi người yêu cầu thuyền trưởng phải hy sinh vợ để
thuyền chạy. Thế là họ bắt người phụ nữ vợ thuyền trưởng
trói lại và cột vào chun cát thảy xuống biển tế Hải thần.
Các tỳ kheo đi trên thuyền chứng kiến cảnh thương tâm như
vậy, tự nghĩ không biết người phụ nữ nầy đã tạo ác nghiệp gì
mà phải bị dìm chết như thế! Chúng ta sẽ hỏi đức Phật. Khi
thuyền cập bến, các vị tỳ kheo lên bờ và bộ hành về
Jetavana. Một
nhóm tỳ kheo khác gồm bảy vị, an cư ở miền biên địa. Khi mãn
hạ các vị trở về Sāvatthi đảnh lễ bậc Đạo Sư. Dọc đường,
chiều tối các vị ghé vào một ngôi chùa ở triền núi, xin tá
túc qua đêm. Được sắp xếp cho ngủ trong động đá có bảy
giường nằm. Không ngờ đến nữa đêm, một tảng đá bằng cái nhà
từ trên núi lăn xuống chắn bít cửa động đá. Chư tăng trong
chùa cố sức dẹp tảng đá để giải cứu bảy vị khách tăng nhưng
không thể. Đến ngày thứ bảy, tảng đá tự động lăn đi, bảy vị
tỳ kheo thoát chết nhưng đuối sức vì nhịn ăn bảy ngày. Bảy
vị tỳ kheo ấy tự nghĩ: “Quả ác nầy của chúng ta, ngoài bậc
Đạo Sư sẽ không ai biết được, chúng ta sẽ hỏi Ngài”.
Trên đường về Sāvatthi cả ba nhóm gặp nhau liền vầy đoàn đi
về đảnh lễ Đức Thế Tôn. Sau khi đáp lời vấn an của Đức Thế
Tôn, chư tỳ kheo lần lượt từng nhóm hỏi Ngài về tiền nghiệp
của con quạ bị chết cháy, tiền nghiệp của người phụ nữ bị
dìm chết dưới biển, tiền nghiệp của bảy tỳ kheo bị nhốt
trong động đá. Đức
Phật lần lượt giải thích những tiền nghiệp được hỏi:
Tiền thân con quạ là một nông dân vì tức giận con bò khó dạy
đã chất rơm thiêu chết con bò. Do ác nghiệp ấy người nông
dân sanh vào địa ngục, quả dư sót sanh làm chim quạ bảy kiếp
bị chết cháy.
Tiền thân của vợ ông thuyền trưởng là nữ gia chủ, nhà có
nuôi con chó, nó quyến luyến bà chủ, lúc nào cũng đi theo bà
chủ như bóng với hình. Mọi người thấy thế chế nhạo bà là nữ
thợ săn. Nữ gia chủ đánh đuổi con chó thế nào nó cũng đi
theo mãi. Vì mắc cỡ với dân làng nên nữ gia chủ đã nhẫn tâm
xích cổ con chó và đầu dây cột vào cái bình đầy cát ném nó
xuống ao, con chó không thể trồi lên, nó ngộp nước mà chết.
Nữ gia chủ ấy sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục, quả
dư sót sanh làm người, làm thú bị dìm chết dưới nước.
Tiền thân của bảy bị tỳ kheo bị nhốt trong hang đá bảy ngày,
kiếp quá khứ bảy vị ấy là bảy đứa trẻ mục đồng chăn bò đi ăn
cỏ ven rừng, khi chỗ nầy khi chỗ khác cứ bảy ngày thì trở
lại chỗ cũ… Một hôm, chúng gặp một con kỳ đà và rượt bắt,
con kỳ đà chạy thoát chun vào gò mối lớn có nhiều ngách. Lũ
mục đồng mỗi đứa bẻ nhánh cây chèn lỗ ngách nhốt con kỳ đà,
tính ngày mai đem cuốc xẻng ra đào bắt. Nhưng lũ trẻ hôm sau
đánh bò đi ăn chỗ khác, quên con kỳ đà. Mãi đến bảy ngày sau
quay lại cho bò ăn chỗ cũ, thấy gò mối sực nhớ ra con kỳ đà,
chúng nhổ cây chèn cửa ngách, con kỳ đà chun ra ngất ngư gần
chết vì đói. Lũ trẻ thấy vậy thương hại nên tha cho nó đi.
Do tạo nghiệp ấy bảy đứa mục đồng dù không sát hại kỳ đà
nhưng làm nó bị nhốt đói nên đã mười bốn kiếp bị bỏ đói. Sau
khi nhắc lại bổn sanh, đức Phật thuyết pháp về nghiệp báo,
rồi Ngài đúc kết bằng bài kệ: “Na antalikkhe na
samuddamajjhe … yaṭṭhaṭṭhito muñceyya pāpakammā ’ti”.
Cuối pháp thoại, ba nhóm tỳ kheo đắc được thánh quả và hội
chúng cũng đạt được nhiều lợi ích.
Chánh văn:
(dhp 127)
Na antalikkhe na samuddamajjhe Thích văn:
antalikkhe [định sở cách số ít của danh từ trung tính
antalikkha] trên không trung, trên bầu trời. Việt văn: (pc 127)
Không trên trời, giữa biển,
Chuyển văn:
Na antalikkhe na samuddamajjhe na pabbatānaṃ vivaraṃ pavissa
yatthaṭṭhito pāpakammā muñceyya so jagatippadeso na vijjati.
Không ở trên hư không, không ở giữa biển cả, không phải đi
vào hang núi, nơi mà trú ẩn có thể thoát khỏi ác nghiệp, nơi
chốn ấy trong thế gian không có.
Lý giải:
Người ta có thể trốn tránh kẻ thù hay trốn tránh sự truy nã
của vua hay trốn tránh chủ nợ theo đòi, bằng cách bỏ đi biệt
xứ, cải tên đổi họ, thậm chí là tự sát để sanh cảnh giới
khác ..v.v..
Nhưng nghiệp ác mà người đã tạo thì không thể trốn tránh ở
đâu trong thế gian nầy để thoát khỏi quả của nghiệp ác, thậm
chí là sanh ở cảnh giới khác, thế nên mới nói không có chỗ
nào trên thế gian trú ẩn thoát khỏi ác nghiệp. Ác
nghiệp được tạo bởi tâm tương ưng căn bất thiện, tư bất
thiện (akusalacetanā) có mãnh lực dị thời nghiệp
trỗ sanh dị thục quả. Quả khổ theo sau như xe theo sau con
bò kéo, dù con bò đi gần hay đi xa tới đâu thì chiếc xe vẫn
bám theo sau vì ách xe máng vào cổ nó.
Người có trí và có niềm tin nhân quả muốn không bị quả khổ
thì không tạo nghiệp ác. Trong duyên sự bài kệ pháp cú nầy
cho thấy nhân quả báo ứng rõ ràng, tâm ác có kết quả ác ./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |