|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 11 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Gia Chủ (S. ii, 76). CÓ CHĂNG SỰ TỒN TẠI ĐỘC LẬP CỦA THẾ GIỚI KHÁCH QUAN?. Bài 48.Kinh Người Theo Vũ Trụ Luận (Lokāyatikasuttaṃ).
Vũ trụ quan có
một ảnh hưởng lớn đối với nhân sinh quan. Khoa học ngày nay
đưa con người thiên nặng về duy vật mà trong đó là sự tồn
tại của một thế giới khách quan độc lập với nhận thức được
xem là chân lý. Thật ra từ rất xa xưa, do sự nhỏ bé của con
người trước đại tự nhiên đã có quan niệm rất bản năng là vũ
trụ là một huyền cơ khổng lồ mà nỗ lực cá nhân không là gì
cả. Sau nầy với quan niệm duy linh người ta nói về thế giới
nhận thức chủ quan nội tại mà “tâm như hoạ sĩ vẽ vời cảnh
thế gian”. Đức Phật dạy “xúc” là giao điểm của căn, cảnh tạo
nên thức bao gồm cả yếu tính nội tại và ngoại tại. Từ đó
duyên cảm thọ, cảm thọ duyên ái… Không có chữ “duy” ở đây.
Tất cả biên kiến đối đãi đều nguy hiểm khi đưa đến chấp
thường hay chấp đoạn.
Sāvatthiyaṃ viharati. Atha kho lokāyatiko brāhmaṇo yena
bhagavā...pe... ekamantaṃ nisinno kho lokāyatiko brāhmaṇo
bhagavantaṃ etadavoca –
Ngự tại Sāvatthi.
Bấy giờ một bà la môn theo thuyết vũ trụ luận đi đến Đức Thế
Tôn. Sau khi nói lên những lời xã giao thân thiện, đã ngồi
xuống một bên và nói rằng:
‘‘Kiṃ nu kho, bho gotama, sabbamatthī’’ti? ‘‘‘Sabbamatthī’ti kho,
brāhmaṇa, jeṭṭhametaṃ lokāyataṃ’’ -- Thưa Tôn giả Gotama, đúng
chăng là “nhất thiết hữu”?
-- Này Bà la môn, “nhất thiết hữu” là lập thuyết xưa nhất
của vũ trụ luận
‘‘Kiṃ pana, bho gotama, sabbaṃ natthī’’ti? ‘‘‘Sabbaṃ
natthī’ti kho, brāhmaṇa, dutiyametaṃ lokāyataṃ’’.
-- Thưa Tôn giả Gotama, đúng chăng là “nhất thiết vô”?
-- Này Bà la môn, “nhất thiết vô” là lập thuyết thứ hai của
vũ trụ luận
‘‘Kiṃ nu kho, bho gotama, sabbamekatta’’nti?
‘‘‘Sabbamekatta’nti kho, brāhmaṇa, tatiyametaṃ lokāyataṃ’’.
-- Thưa Tôn giả Gotama, phải chăng “tất cả là nhất thể”?
-- Này Bà la môn, “tất cả là nhất thể” là lập thuyết thứ ba
của vũ trụ luận
‘‘Kiṃ pana, bho gotama, sabbaṃ puthutta’’nti? ‘‘‘Sabbaṃ
puthutta’nti kho, brāhmaṇa, catutthametaṃ lokāyataṃ’’.
-- Thưa Tôn giả Gotama, phải chăng “tất cả là đa nguyên”?
-- Này Bà la môn, “tất cả là đa nguyên” là lập thuyết thứ tư
của vũ trụ luận
‘‘Ete te, brāhmaṇa, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato
dhammaṃ deseti – ‘avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā
viññāṇaṃ...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā
saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho...pe...
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti.
Này Bà la môn,
từ bỏ những cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo:
Với vô minh là duyên, hành sanh khởi; hành là duyên, thức
sanh khởi; thức là duyên, danh sắc sanh khởi; danh sắc là
duyên, lục nhập sanh khởi; lục nhập là duyên, xúc sanh khởi;
xúc là duyên, tho sanh khởi; thọ là duyên, ái sanh khởi; ái
là duyên, thủ sanh khởi; thủ là duyên, hữu sanh khởi; hữu là
duyên, sinh sanh khởi; sinh là duyên, già, chết, khổ, ưu, ai
sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
Do vô minh diệt hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên
thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt
nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt
nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt.
Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt tận.
Evaṃ vutte, lokāyatiko brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘abhikkantaṃ, bho gotama...pe... ajjatagge pāṇupetaṃ
saraṇaṃ gata’’nti. Aṭṭhamaṃ.
Khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn theo vũ trụ luận bạch Thế
Tôn:
-- Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu,
thưa Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ
tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Chú Thích
Chữ lokāyatika có
nghĩa là người theo vũ trụ luận (lokāyata). Theo Sớ giải đây
là lập thuyết y cứ trên biện chứng pháp (vitaṇḍasatthe
lokāyate kataparicayo). Hậu Sớ Giải chú thích rằng “lokāyata
– vũ trụ luận – có quan điểm rằng thế giới nầy tự hữu không
có gì để phấn đấu, không thể cải thiện, không có lợi lạc gì
hơn ở tương lai (āyatiṃ hitaṃ tena loko na yatati na īhatī
ti lokāyataṃ). Từ quan điểm chấp thủ nầy dẫn đến thái độ
không làm có thiện sự và không có những nỗ lực tu tập bản
thân. Do tư duy nặng về biện chứng pháp nên một số lớn những
luận sư theo vũ trụ luận nghiêng về chủ nghĩa duy vật, tiêu
biểu là Cārvāka.
Vũ trụ luận nhấn
mạnh về vận hành của thế giới khách quan mà nỗ lực cá nhân
không làm gì khác được. Đối lập là ngã luận chủ trương về
duy tâm hay duy thức là sự năng lực chủ quan có thể thay đổi
cả thế giới (trong sự so sánh chừng mực nào đó giống như câu
“tâm bình thế giới bình”)
Ngay trong dòng
lịch sử của Phật giáo thì có cả hai khuynh hướng bộ phái nổi
bật là Nhất Thiết Hữu Bộ (sarvāstivāda) với Luận Tỳ Bà Sa
(Mahāvibhāṣa Śāstra) và sau nầy bộ phái đối lập là trường
phái Bát Nhã với Trung Quán Luận (Mulamadhyamakakarika) về
tánh không. Bài kinh tuy ngắn nhưng khẳng định Phật pháp
thời nguyên thuỷ không thuộc cả hai. Điều nầy được nêu rõ
bởi cả hai học giả Rhys Davids (Dialogues of the Buddha,
1:166-72) và Jayatilleke
(Early Buddhist Theory of Knowledge, pp. 48-57).
(Cũng nên nói thêm là một số người cho rằng Phật giáo Nam
Tông ngày nay là một nhánh còn sót lại của Nhất Thiết Hữu Bộ
vì cùng thọ trì Thắng Pháp Tạng và sự tương đồng của phần
lớn kinh điển nhưng sự gom chung nầy rất nguy hiểm nếu xem
Phật giáo thuộc về “nhất thiết hữu” hoặc “nhất thiết vô”)
Theo Sớ Giải cụm
từ “jeṭṭhametaṃ lokāyataṃ - vũ trụ luận cổ xưa nhất” bao gồm
cả chiều kích không gian và thời gian. Nói cách khác là quan
niệm chấp thủ sai lầm và tầm thường nhất nhưng lại phổ biến
và ảnh hưởng sâu rộng nhất (mahantaṃ gambhīran ti upaṭṭhitaṃ
parittaṃ sāsavaṃ diṭṭhigataṃ). Một trong những hình thái dễ
nhận ra nhất là môn chiêm tinh với lập luận về sự chi phối
của các vì sao đối với vận mệnh con người.
Theo Sớ Giải
thuật ngữ Ekattaṃ -
nhất nguyên - nhất mạnh sự hằng hữu
(niccasabhāva) tương tự như cách nói người gieo nhân
và người gặt quả là một.
Trong lúc
Puthuttaṃ - đa nguyên
- như cách nói
người gây đau khổ và người cảm thọ khổ là hai.
Theo Sớ Giải bốn
luận cứ của vũ trụ luận trong bài kinh thì kiến chấp thứ
nhất và thứ ba thuộc thường kiến (sassatadiṭṭhi). Kiến chấp
thứ hai và thứ tư thuộc đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi)
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |