|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 12 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Gia Chủ (S. ii, 77). DUYÊN KHỞI KHÔNG THỂ HIỀU LÀ NHỮNG MẢNH GHÉP RỜI RẠC. Bài 49. Kinh Thánh Đệ Tử (Ariyasāvakasuttaṃ).
Cái gì thuộc về
quy trình phải được hiểu thứ lớp tuần tự chứ không thể nhận
thức từng phần riêng lẻ. Đây cũng là trường hợp nói về giáo
lý duyên khởi. Sự liên đới của các pháp là điểm nhấn quan
trọng để hiểu giáo lý vô ngã. Ở đây không có sự tồn tại độc
lập cá biệt. Không có một thượng đế tự hữu mà không có ai
tạo ra. Không có một linh hồn hằng hữu bất diệt. Gọi là hữu
vi vì do duyên mà sanh và cũng do duyên mà diệt.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘na, bhikkhave, sutavato
ariyasāvakassa evaṃ hoti – ‘kiṃ nu
kho kismiṃ sati kiṃ hoti, kissuppādā kiṃ uppajjati?
(Kismiṃ sati saṅkhārā honti, kismiṃ sati viññāṇaṃ hoti,) [(
) etthantare pāṭhā kesuci potthakesu na dissantīti sī. pī.
potthakesu dassitā. tathā sati anantarasuttaṭīkāya sameti]
kismiṃ sati nāmarūpaṃ hoti, kismiṃ sati saḷāyatanaṃ hoti,
kismiṃ sati phasso hoti, kismiṃ sati vedanā hoti, kismiṃ
sati taṇhā hoti, kismiṃ sati upādānaṃ hoti, kismiṃ sati
bhavo hoti, kismiṃ sati jāti hoti, kismiṃ sati jarāmaraṇaṃ
hotī’’’ti?
Ngự ở Sāvatthi …
-- Này chư
Tỳ Khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu không có
suy nghĩ như sau: "Khi cái gì hiện hữu thì cái gì được tạo
thành? Với sự sanh khởi của cái gì khiến cái đó hiện khởi?
[Do duyên gì hành sanh khởi? Do duyên gì thức sanh khởi?] Do
duyên gì danh sắc hiện khởi? Do duyên gì lục nhập hiện khởi?
Do duyên gì xúc hiện khởi? Do duyên gì thọ hiện khởi? Do
duyên gì ái hiện khởi? Do duyên gì thủ hiện khởi? Do duyên
gì hữu hiện khởi? Do duyên gì sanh hiện khời? do duyên gì
già chết hiện khởi?.
‘‘Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā
ñāṇamevettha hoti – ‘imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā
idaṃ uppajjati. (Avijjāya sati saṅkhārā honti; saṅkhāresu
sati viññāṇaṃ hoti;) [( ) etthakesu pāṭhā kesuci potthakesu
na dissantīti sī. pī. potthakesu dassitā. tathā sati
anantarasuttaṭīkāya sameti] viññāṇe sati nāmarūpaṃ hoti;
nāmarūpe sati saḷāyatanaṃ hoti; saḷāyatane sati phasso hoti;
phasse sati vedanā hoti; vedanāya sati taṇhā hoti; taṇhāya
sati upādānaṃ hoti; upādāne sati bhavo hoti; bhave sati jāti
hoti; jātiyā sati jarāmaraṇaṃ hotī’ti. So evaṃ pajānāti –
‘evamayaṃ loko samudayatī’’’ti.
-- Này chư
Tỳ Khưu, thay vào đó,thánh đệ tử có học hiểu chính mình hiểu biết rõ: Do
cái nầy hiện hữu nên cái kia hiện khởi; do cái đó hiện khởi
nên cái nầy hiện hữu; [do có vô minh nên có hành, do có hành
nên có thức], do có thức nên có danh sắc; do có danh sắc nên
có lục nhập; do có lục nhập nên có xúc, do có xúc nên có
thọ; do có thọ nên có ái; do có ái nên có thủ; do có thủ nên
có hữu; do có hữu nên có sanh; do có sanh nên có già chết.
Vị ấy hiểu rõ: như vậy là sự hiện khởi của thế giới.
‘‘Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṃ hoti – ‘kiṃ nu
kho kismiṃ asati kiṃ na hoti, kissa nirodhā kiṃ nirujjhati?
(Kismiṃ asati saṅkhārā na honti, kismiṃ asati viññāṇaṃ na
hoti,) [( ) etthantare pāṭhāpi tattha tatheva dassitā]
kismiṃ asati nāmarūpaṃ na hoti, kismiṃ asati saḷāyatanaṃ na
hoti, kismiṃ asati phasso na hoti, kismiṃ asati vedanā na
hoti, kismiṃ asati taṇhā na hoti, kismiṃ asati upādānaṃ na
hoti, kismiṃ asati bhavo na hoti, kismiṃ asati jāti na hoti,
kismiṃ asati jarāmaraṇaṃ na hotī’’’ti?
-- Này chư Tỳ Khưu,
vị
thánh đệ tử có học hiểu không có suy nghĩ như sau:
"Khi cái gì không hiện hữu thì cái gì được không tạo thành?
Với sự chấm dứt của cái gì khiến cái đó không hiện khởi? [Do
đoạn diệt gì hành hành sanh khởi? Do đoạn diệt gì gì thức
sanh khởi?] Do đoạn diệt gì gì danh sắc không hiện khởi? Do
đoạn diệt gì gì lục nhập không hiện khởi? Do đoạn diệt gì gì
xúc không hiện khởi? Do đoạn diệt gì gì thọ không hiện khởi?
Do đoạn diệt gì gì ái không hiện khởi? Do đoạn diệt gì gì
thủ không hiện khởi? Do đoạn diệt gì gì hữu không hiện khởi?
Do đoạn diệt gì gì sanh hiện khời? do duyên gì già chết
không hiện khởi?.
‘‘Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā
ñāṇamevettha hoti – ‘imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa
nirodhā idaṃ nirujjhati. (Avijjāya asati saṅkhārā na honti;
saṅkhāresu asati viññāṇaṃ na hoti;) [( ) etthantare pāṭhāpi
tattha tatheva dassitā] viññāṇe asati nāmarūpaṃ na hoti;
nāmarūpe asati saḷāyatanaṃ na hoti...pe... bhavo na hoti...
jāti na hoti... jātiyā asati jarāmaraṇaṃ na hotī’ti. So evaṃ
pajānāti – ‘evamayaṃ loko nirujjhatī’’’ti.
-- Này chư Tỳ Khưu, thay vào
đó,
vị
thánh đệ tử có học hiểu chính mình hiểu biết rõ: Do
cái nầy không hiện hữu nên cái kia không hiện khởi; do cái
đó không hiện khởi nên cái nầy không hiện hữu; [do không có
vô minh nên không có hành, do không có hành nên không có
thức], do không có thức nên không có danh sắc; do không có
danh sắc nên không có lục nhập; do không có lục nhập nên
không có xúc, do không có xúc nên không có thọ; do không có
thọ nên không có ái; do không có ái nên không có thủ; do
không có thủ nên không có hữu; do không có hữu nên không có
sanh; do không có sanh nên không có già chết. Vị ấy hiểu rõ:
như vậy là sự tịch diệt của thế giới.
‘‘Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṃ lokassa samudayañca
atthaṅgamañca yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ vuccati, bhikkhave,
ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi...pe... amatadvāraṃ āhacca
tiṭṭhati itipī’’ti. Navamaṃ.
Này chư Tỳ Khưu, do vị thánh đệ tử biết duyên như vậy, duyên
tập khởi như vậy, duyên đoạn diệt như vậy; biết rõ con đường
đưa đến đoạn diệt như vậy, vị thánh đệ tử ấy được gọi là đạt
tri kiến, đạt tầm nhìn, đã đạt được chân diệu pháp này, thấy
được chân diệu pháp này; đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ
hữu học minh, đã nhập pháp lưu, là bậc thánh minh tuệ giác,
đã đứng ngay tại Cửa Bất Tử.
Chú Thích Bài
kinh nầy có những câu nằm trong dấu ngoặc [
] để chỉ cho sự khác biệt của những dị bản. Những câu
nầy vì lý do gì đó không tìm thấy trong Tam Tạng ở Thái Lan
và Tích Lan. Sớ
Giải và Hậu Sớ Giải chú thích rằng ở đây duyên khởi được
trình bày theo song quan luận (dve nayā ekato vuttā) với
hiện khởi và chấm dứt, năng duyên và sở duyên. Đây là cách
nhận thức mạch lạc và minh xác. Cụm từ
sutavato ariyasāvakassa - vị thánh đệ tử có học hiểu - chỉ
cho người có học pháp do vị Phật toàn giác truyền dạy chứ
không phải tự thân giác ngộ. Chữ sutavato không mang ý nghĩa
là “đa văn hay học nhiều hiểu rộng” như ở một số bản dịch. Chữ
aparappaccayā hàm nghĩa là chính mình nhận biết chứ không
phải tin do sự nói lại hay thuyết phục. Vị thánh đệ tử có
thể học từ kinh điển hay qua sự giảng dạy nhưng khi đắc
chứng đạo quả thì tự thân thể nghiệm và liễu tri. Hai
mệnh đề: ‘kiṃ nu kho kismiṃ sati kiṃ hoti,
kissuppādā kiṃ uppajjati – Khi cái gì hiện hữu thì
cái gì được tạo thành? Với sự sanh khởi của cái gì khiến cái
đó hiện khởi? mệnh đề đầu là câu hỏi về sở duyên (nguyên
nhân nầy dẫn tới hệ quả nào?) và mệnh đề sau là câu hỏi về
năng duyên (sự hiện hữu nầy do nhân nào) Sự
hiểu biết duyên khởi phải là một trình tự mang tánh liên lũy
không thể nhận thức rời rạc bởi vì là tác động dây chuyền. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |