|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 15 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Khổ (S.ii, 80). Hành Thâm Bát Nhã. Bài 51. Kinh Thẩm Nghiệm (Parivīmaṃsanasuttaṃ).
Chữ paññā thường
được dịch là trí tuệ. Nhưng trí tuệ đi sâu và chính xác về
bản chất của sanh tử và giải thoát đôi khi được dịch là tuệ
giác. Các dịch giả Trung Hoa thời cổ đại không thoả mãn với
từ vựng dịch thuật nầy nên thường chọn phiên âm là bát nhã.
Trí bát nhã ở đây là khả năng nhận thức duyên khởi với bản
chất, nhân tập khởi, sự vượt thoát, và con đường đưa đến sự
vượt thoát. Trí
bát nhã ở đây đối lập với vô minh với nhận thức chân tướng
niết bàn và sanh tử.
Bài kinh nầy, một lần nữa, nói lên giáo lý duyên khởi
trong hành trình giác ngộ giải thoát.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū
āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tôi được nghe như vầy.
Một thuở Đức Thế Tôn
ngự tại Sāvatthi (Xá
vệ), Jetavana (Kỳ Viên),
ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc)
dâng cúng.
Tại đấy Đức
Thế Tôn gọi chư Tỳ khưu: "Này chư Tỳ khưu".
Chư tỳ khưu trả lời
"Dạ bạch Thế Tôn".
Đức Thế Tôn nói như sau:
‘‘Kittāvatā nu kho, bhikkhave, bhikkhū parivīmaṃsamāno
parivīmaṃseyya sabbaso sammā dukkhakkhayāyā’’ti?
‘‘Bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṃnettikā
bhagavaṃpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva
paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū
dhāressantī’’ti. ‘‘Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṃ
manasi karotha, bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho te
bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
--
Này chư Tỳ
khưu,
khi một tỳ khưu thẩm nghiệm thì thẩm nghiệm cách nào để diệt
tận hoàn toàn khổ đau?
-- Bạch Đức
Thế Tôn,
giáo pháp
bắt nguồn từ Đức
Thế Tôn,
dẫn đạo bởi Đức Thế Tôn, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay
nếu Thế Tôn
nói lên ý nghĩa của
lời nói này. Được nghe Đức Thế
Tôn giảng chư tỳ khưu sẽ thọ trì.
-- Vậy
thì hãy lắng
nghe và khéo suy tư Ta sẽ giảng.
--
Dạ vâng, bạch Đức
Thế Tôn.
Chư tỳ khưu
trả lời và Đức Thế Tôn
nói như sau:
‘‘Idha, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṃsamāno parivīmaṃsati –
‘yaṃ kho idaṃ anekavidhaṃ nānappakārakaṃ dukkhaṃ loke
uppajjati jarāmaraṇaṃ; idaṃ nu kho dukkhaṃ kiṃnidānaṃ
kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ? Kismiṃ sati jarāmaraṇaṃ
hoti, kismiṃ asati jarāmaraṇaṃ na hotī’ti? So
parivīmaṃsamāno evaṃ pajānāti – ‘yaṃ kho idaṃ anekavidhaṃ
nānappakārakaṃ dukkhaṃ loke uppajjati jarāmaraṇaṃ, idaṃ kho
dukkhaṃ jātinidānaṃ jātisamudayaṃ jātijātikaṃ jātippabhavaṃ.
Jātiyā sati jarāmaraṇaṃ hoti, jātiyā asati jarāmaraṇaṃ na
hotī’’’ti.
‘‘So jarāmaraṇañca pajānāti, jarāmaraṇasamudayañca pajānāti,
jarāmaraṇanirodhañca pajānāti, yā ca
jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti,
tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī; ayaṃ vuccati,
bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno
jarāmaraṇanirodhāya.
-- Này chư Tỳ khưu, ở đây khi một tỳ khưu quán chiếu vị ấy
thẩm nghiệm như sau: Với muôn vàn hình thái đau khổ hiện
khởi trong đời (dẫn đầu) với già chết vậy cái gì là cội
nguồn, cái gì là nguyên ủy, do đâu mà tập khởi, mà tạo
thành? Do cái gì có nên già chết xẩy
ra? Do cái gì không nên già chết không xẩy ra?
Từ thẩm nghiệm vị ấy nhận
ra: Với muôn vàn hình thái đau khổ hiện khởi trong đời (dẫn
đầu) với già chết thì sự sanh là cội nguồn, sự sanh là
nguyên ủy, do sự sanh tập khởi, do sự sanh mà tạo thành. Do
có sanh nên già chết xẩy ra. Do không có sự sanh nên già
chết không xẩy ra.
Vị ấy biết già chết; biết
nhân tập khởi già chết; biết sự chấm dứt già chết; biết con
đường thích đáng dẫn đến chấm dứt già chết. Vị ấy thực hành
và hướng bản thân theo đúng theo pháp. Như vậy gọi là vị tỳ
khưu thẩm nghiệm để diệt tận hoàn toàn khổ đau.
‘‘Athāparaṃ parivīmaṃsamāno parivīmaṃsati – ‘jāti panāyaṃ
kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā, kismiṃ sati jāti
hoti, kismiṃ asati jāti na hotī’ti? So parivīmaṃsamāno evaṃ
pajānāti – ‘jāti bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā
bhavappabhavā; bhave sati jāti hoti, bhave asati jāti na
hotī’’’ti.
‘‘So jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti,
jātinirodhañca pajānāti, yā ca jātinirodhasāruppagāminī
paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti
anudhammacārī; ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso
sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jātinirodhāya.
‘‘Athāparaṃ parivīmaṃsamāno parivīmaṃsati – ‘bhavo panāyaṃ
kiṃnidāno...pe... upādānaṃ panidaṃ kiṃnidānaṃ... taṇhā
panāyaṃ kiṃnidānā... vedanā... phasso... saḷāyatanaṃ panidaṃ
kiṃnidānaṃ... nāmarūpaṃ panidaṃ... viññāṇaṃ panidaṃ...
saṅkhārā panime kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā;
kismiṃ sati saṅkhārā honti, kismiṃ asati saṅkhārā na
hontī’ti? So parivīmaṃsamāno evaṃ pajānāti – ‘saṅkhārā
avijjānidānā avijjāsamudayā avijjājātikā avijjāpabhavā;
avijjāya sati saṅkhārā honti, avijjāya asati saṅkhārā na
hontī’’’ti.
‘‘So saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti,
saṅkhāranirodhañca pajānāti, yā ca
saṅkhāranirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā
paṭipanno ca hoti anudhammacārī; ayaṃ vuccati, bhikkhave,
bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno
saṅkhāranirodhāya.
Quán chiếu xa hơn, vị ấy thẩm nghiệm như sau:
Sự sanh có
gì là cội nguồn, cái gì là nguyên ủy, do đâu mà tập khởi, mà
tạo thành?
Hữu có gì là cội nguồn …?
Thủ có gì là cội nguồn …? Ái có gì là cội nguồn …? Thọ có gì
là cội nguồn …? Xúc có gì là cội nguồn …? Lục nhập có gì là
cội nguồn …?
Danh sắc có gì là cội nguồn …?
Thức có gì là cội nguồn …?
Hành có gì là cội nguồn? cái gì là nguyên ủy, do đâu mà tập
khởi, mà tạo thành? Do cái gì có nên hành xẩy ra? Do cái gì
không nên hành không xẩy ra?
Từ thẩm nghiệm vị ấy nhận ra: với hành thì vô minh là cội
nguồn, vô minh là nguyên ủy, do vô minh tập khởi, do vô minh
mà tạo thành. Do có sanh nên già chết xẩy ra. Do không có vô
minh nên già chết không xẩy ra.
Vị ấy biết hành; biết nhân tập khởi hành; biết sự chấm dứt
hành; biết con đường thích đáng dẫn đến chấm dứt hành. Vị ấy
thực hành và hướng bản thân theo đúng theo pháp. Như vậy gọi
là vị tỳ khưu thẩm nghiệm để diệt tận hoàn toàn khổ đau và
chấm dứt hành.
‘‘Avijjāgato yaṃ, bhikkhave, purisapuggalo puññaṃ ce
saṅkhāraṃ abhisaṅkharoti, puññūpagaṃ hoti viññāṇaṃ. Apuññaṃ
ce saṅkhāraṃ abhisaṅkharoti, apuññūpagaṃ hoti viññāṇaṃ.
Āneñjaṃ ce saṅkhāraṃ abhisaṅkharoti āneñjūpagaṃ hoti
viññāṇaṃ. Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti
vijjā uppannā, so avijjāvirāgā vijjuppādā neva
puññābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti na apuññābhisaṅkhāraṃ
abhisaṅkharoti na āneñjābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkharoti.
Anabhisaṅkharonto anabhisañcetayanto na kiñci loke
upādiyati; anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānāti.
-- Này chư Tỳ khưu,
nếu một người ngập
chìm trong vô minh tạo phúc hành thì thức đi tới phước. Nếu
người ấy tạo phi phước hành thì thức đi đến phi phước. Nếu
người ấy tạo bất động hành thì thức đi đến bất động.
-- Này chư
Tỳ khưu,
khi một tỳ khưu
đoạn tận vô minh, sanh khởi tuệ giác với chánh trí
và sự chấm dứt hoàn toàn của vô minh vị không tạo các
hành, vị ấy không chấp thủ điều gì ở đời, vị ấy không tạo
phước hành, phi phước hành, và bất động hành.
Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh
được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi,
không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước
hành, không dự tính làm bất động hành. Vị ấy không chấp thủ, không khao khát. Không
khao khát vị ấy tự thân chứng niết bàn. Vị ấy tự hiểu
"Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, những
gì cần làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái này nữa".
‘‘So sukhaṃ ce vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti,
anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. Dukkhaṃ ce
vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti
pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. Adukkhamasukhaṃ ce
vedanaṃ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti
pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. So sukhaṃ ce vedanaṃ
vedayati, visaṃyutto naṃ vedayati. Dukkhaṃ ce vedanaṃ
vedayati, visaṃyutto naṃ [taṃ vedanaṃ (sī. pī.), vedanaṃ
(ka.)] vedayati. Adukkhamasukhaṃ ce vedanaṃ vedayati,
visaṃyutto naṃ vedayati.
‘‘So kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno kāyapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayamāno jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmīti pajānāti.
Kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni
anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti
pajānāti.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kumbhakārapākā uṇhaṃ kumbhaṃ
uddharitvā same bhūmibhāge paṭisisseyya [paṭiviseyya (sī.),
patiṭṭhapeyya (syā. kaṃ. pī.), paṭiseveyya (ṭīkā)]. Tatra
yāyaṃ usmā sā tattheva vūpasameyya, kapallāni avasisseyyuṃ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṃ vedanaṃ
vedayamāno kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmīti pajānāti,
jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno jīvitapariyantikaṃ
vedanaṃ vedayāmīti pajānāti. Kāyassa bhedā uddhaṃ
jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni
sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti. Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết “lạc thọ ấy vô thường”, vị ấy biết : “không tham đắm”, vị ấy biết “không nên bám víu”.
Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ,
vị ấy biết “khổ thọ ấy vô thường”, vị ấy biết : “không tham
đắm”, vị ấy biết “không nên bám víu”.
Nếu vị ấy cảm giác phi khổ
phi lạc thọ, vị ấy biết “phi khổ phi lạc thọ vô thường”, vị
ấy biết : “không tham đắm”, vị ấy biết “không nên bám víu”.
Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ,
cảm thọ với sự không vướng mắc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ,
cảm thọ với sự không vướng mắc. Nếu vị ấy cảm giác phi khổ
phi lạc thọ, cảm thọ với sự không vướng mắc.
Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ
hạn cuộc bởi thân, vị ấy
biết: "Ta cảm giác một cảm thọ
hạn cuộc của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ
hạn cuộc
của sinh
mạng, vị ấy biết: "Ta cảm giác một cảm thọ
hạn cuộc của sinh mạng". Vị ấy biết: "Sau khi thân hoại mạng
chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc,
sẽ trở thành
thanh lương,
chỉ là thân bỏ lại".
Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ chung cuộc của thân, vị ấy
biết: "Ta cảm giác một cảm thọ chung cuộc của thân". Khi vị
ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết:
"Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng". Vị ấy
biết: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm
thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành thanh lương, chỉ
là thân bỏ lại".
‘‘Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, api nu kho khīṇāsavo bhikkhu
puññābhisaṅkhāraṃ vā abhisaṅkhareyya apuññābhisaṅkhāraṃ vā
abhisaṅkhareyya āneñjābhisaṅkhāraṃ vā abhisaṅkhareyyā’’ti?
‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana saṅkhāresu asati,
saṅkhāranirodhā api nu kho viññāṇaṃ paññāyethā’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana viññāṇe asati,
viññāṇanirodhā api nu kho nāmarūpaṃ paññāyethā’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana nāmarūpe asati,
nāmarūpanirodhā api nu kho saḷāyatanaṃ paññāyethā’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana saḷāyatane asati,
saḷāyatananirodhā api nu kho phasso paññāyethā’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana phasse asati,
phassanirodhā api nu kho vedanā paññāyethā’’ti? ‘‘No hetaṃ,
bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana vedanāya asati, vedanānirodhā
api nu kho taṇhā paññāyethā’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
‘‘Sabbaso vā pana taṇhāya asati, taṇhānirodhā api nu kho
upādānaṃ paññāyethā’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā
pana upādāne asati, upādānanirodhā api nu kho bhavo
paññāyethā’’ti. ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana
bhave asati, bhavanirodhā api nu kho jāti paññāyethā’’ti?
‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sabbaso vā pana jātiyā asati,
jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṃ paññāyethā’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’.
Này
chư Tỳ khưu, các Thầy nghĩ thế nào: Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc có
khao khát làm các
phước hành, phi phước hành, hay bất động hành chăng? -- Nếu hoàn toàn không có hành, do hành chấm dứt thời thức có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có thức, do thức chấm dứt thời danh sắc có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có danh sắc, do danh sắc chấm dứt thời lục nhập có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có lục nhập, do lục nhập chấm dứt thời xúc có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có xúc, do xúc chấm dứt thời thọ có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có thọ, do các thọ chấm dứt thời ái có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có ái, do ái chấm dứt thời thủ có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có thủ, do thủ chấm dứt thời hữu có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có hữu, do hữu chấm dứt thời sanh có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn. -- Nếu hoàn toàn không có sanh, do các sanh chấm dứt thời già chết có được thấy không? -- Thưa không, bạch Thế Tôn.
‘‘Sādhu sādhu, bhikkhave, evametaṃ, bhikkhave, netaṃ
aññathā. Saddahatha me taṃ, bhikkhave, adhimuccatha,
nikkaṅkhā ettha hotha nibbicikicchā. Esevanto dukkhassā’’ti.
Paṭhamaṃ.
-- Lành thay, lành thay.
Này
chư tỳ khưu,
chính xác là vậy. Không thể khác hơn. Hãy tin ta. Hãy khẳng
định điều ấy. Chớ nghi hoặc, lưỡng lự. Chính đây là sự chấm
dứt khổ đau.
các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể
khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ
có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận. Chú
Thích
Phẩm kinh nầy trong Tam Tạng
Miến Điện và Tích Lan có tên là “Phẩm khổ - Dukkhavagga”
nhưng trong bản Pāli Roman thì là “Phẩm Cây – Rukkhavagga”
Theo Sớ Giải chữ
parivīmaṃsamāno - thẩm nghiệm - được hiểu la upaparikkhamāno
- thẩm thấu. Bản chữ Hán dịch là hành thâm có nghĩa là đi
sâu vào.
Theo Sớ Giả cụm từ
Jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā - biết con đường
thích đáng dẫn đến chấm dứt già chết – hàm nghĩa là sự tu
tập ứng hợp với bản chất tự nhiên.
Ba thuật ngữ phước hành, phi
phước hành, bất động hành là một phân chia khác về hạnh
nghiệp dẫn đến cảnh giới thành tựu không hẳn là cảnh giới
tái sanh. Phước hành (puññaṃ saṅkhāraṃ) bao gồm nghiệp tạo
bằng tâm thiện dục giới và tâm thiện sắc giới (theo Thắng
pháp gồm 13 tâm thiện). Phi phước hành (apuññaṃ saṅkhāraṃ)
gồm nghiệp tạo do tâm bất thiện (có 12 tâm). Bất động hành
(āneñjaṃ saṅkhāraṃ) là nghiệp tạo do tâm thiện vô sắt
giới (4 tâm).
Động từ paritassati
có nghĩa là khao khát. Trong ý nghĩa khác là sự sợ hãi
(tasati) Bản Sớ Giải
bao gồm cả sự giao động đối với ái (taṇhāparitassanā) và
giao động đối với sợ hãi (bhayaparitassanā);
Đoạn kinh văn mô tả về chánh
niệm đối với cảm thọ mô tả tâm thái của vị a la hán sau khi
hồi quán về đạo quả thường an trú (satatavihāra) trong chánh
niệm như vậy.
Đoạn kinh văn: “Khi vị ấy cảm
giác một cảm thọ hạn cuộc bởi thân, vị ấy biết: "Ta cảm giác
một cảm thọ hạn cuộc của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm
thọ hạn cuộc của sinh mạng, vị ấy biết: "Ta cảm giác một cảm
thọ hạn cuộc của sinh mạng". Theo Sớ Giải thì hạn cuộc của
thân (kāyapariyantikaṃ ) và hạn cuộc của sinh mạng
(jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ) chỉ cho trạng thái hữu dư niết
bàn. Nói cách khác khi còn thọ mạng, còn các căn môn thì còn
cảm thọ.
Mệnh đề “Đây là thanh lương
(idh’eva ... sītibhavissanti)” là một mô tả về niết bàn.
Chữ kapilla chỉ cho cái ghè, cái thố, cái
tô. Chữ dhātusarīrāni được chú thích là những miếng vụn tàn
dư dính cái ghè khi nặn thành sẽ được cọ sạch sau khi đã
nung xong. Chữ
dhātusarīrāni được hiểu là các mẫu xương xẩu
(aṭṭhikakaṅkala).
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |