|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 19 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Khổ (S.ii, 86). VÌ ĐÂU NÊN NỖI. Bài 53. Kinh Kiết Sử (Saṃyojanasuttaṃ).
Qua lời Phật dạy thì chúng sanh sống khổ đau vì sự cột trói
mà sự cột trói chính do phiền não tự tâm. Mười kiết sử là
những thằng thúc tạo thành khổ ải trầm luân của mỗi chúng
sanh. Chỉ có thể tự mình tháo gỡ. Bài kinh nầy đi xa hơn nói
về nhân sanh của kiết sử là đắm chìm trong vị ngọt của ham
muốn và dục vọng. Thân phận của chúng sanh đối với khổ đau
có thể minh hoạ qua một câu trong Truyện Kiều: “Lại mang lấy
một chữ tình, Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”.
Sāvatthiyaṃ viharati ...pe... ‘‘saṃyojaniyesu, bhikkhave,
dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā bhavo; bhavapaccayā
jāti; jātipaccayā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca
telappadīpo jhāyeyya. Tatra puriso kālena kālaṃ telaṃ
āsiñceyya vaṭṭiṃ upasaṃhareyya. Evañhi so, bhikkhave,
telappadīpo tadāhāro tadupādāno ciraṃ dīghamaddhānaṃ
jaleyya. Evameva kho, bhikkhave, saṃyojaniyesu dhammesu
assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā
upādānaṃ; upādānapaccayā bhavo; bhavapaccayā jāti;
jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo
hoti.
Ngự tại Sāvatthi …
-- Này chư Tỳ khưu, khi một người sống trong sự
miên man
đối với vị ngọt của
các pháp kiết sử
thì ái tăng
thịnh;
do duyên ái nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi
khởi; do duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ
uẩn tập khởi.
-- Này chư Tỳ khưu,
giống
như một
ngọn
đèn
cháy sáng nhờ tim đèn và dầu. Một người thỉnh thoảng châm
thêm dầu và khơi tim lên. Nhờ thêm dầu nên ngọn đèn cháy
sáng lâu. Cũng vậy, khi một người sống trong sự miên man đối
với vị ngọt của các pháp kiết sử thì ái tăng thịnh; do duyên
ái nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do
duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn
tập khởi.
‘‘Saṃyojaniyesu, bhikkhave, dhammesu ādīnavānupassino
viharato taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho;
jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho
hoti.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca
telappadīpo jhāyeyya. Tatra puriso na kālena kālaṃ telaṃ
āsiñceyya na vaṭṭiṃ upasaṃhareyya. Evañhi so, bhikkhave,
telappadīpo purimassa ca upādānassa pariyādānā aññassa ca
anupahārā anāhāro nibbāyeyya. Evameva kho, bhikkhave,
saṃyojaniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā
nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho... pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Tatiyaṃ.
-- Này chư Tỳ khưu, khi một người sống trong sự suy tư đối
với những nguy hiểm
của những pháp kiết sử
thì ái diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên
hữu diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ
uẩn đoạn diệt.
-- Này chư Tỳ khưu, giống như một ngọn đèn cháy sáng nhờ tim
đèn và dầu. Một người
không
châm thêm dầu và
không
khơi tim lên.
Do tim lụn, dầu cạn
nên ngọn đèn
tắt.
Cũng vậy, khi một người sống khi một người sống trong sự suy
tư đối với những nguy hiểm của những pháp kiết sử thì ái
diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên hữu
diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn
đoạn diệt.
Chú Thích
Kiết sử (saṃyojana) có nghĩa là sự cột trói hay thằng thúc.
Những pháp nầy khiến chúng sanh không thể tự tại trong cách
nhận thức, cách sống, và cách đạt đến hạnh phúc đích thực.
Sự đoạn tận kiết sử trong từng công đoạn của hành trình giác
ngộ giải thoát tạo nên 4 đạo và 4 quả. Mười kiết sử là thân
kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, dục ái, sân, sắc ái, vô sắc
ái, ngã mạn, phóng dật, và vô minh.
Theo sớ giải cụm từ
saṃyojaniyesu dhammesu – pháp kiết sử - ở đây chỉ cho
duyên tạo nên mười kiết sử. Và cũng chú thích là “pháp
kiết sử” ở đây chính là mong muốn và dục vọng. Có thể nói
đây là một giải thích thú vị và ít gặp khi nói về nhân sanh
kiết sử.
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |