|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 22 tháng 04, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYATập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Khổ (S.ii, 87). Bài 54. Kinh Kiết Sử II (Saṃyojanasuttaṃ). Bài kinh nầy giống bài kinh trước chỉ khác một điểm nhỏ là
thí dụ được nói trưóc
và pháp nói sau.
ĐOẠN TẬN GỐC RỄ CỦA KHỔ ĐAU. Bài 55. Kinh Đại Thụ (Mahārukkhasuttaṃ).
Đau khổ của kiếp
nhân không phải chỉ có một chưóng duyên hay nghịch cảnh mà
là một tập hợp của nhiều nhân duyên chìm nổi đan dệt vô cùng
phức tạp . Giống như một loài cây sống rất dai. Dù bị chặt
ngang hay còn lại chút ít rễ vẫn có thể mọc lại. Đó là lý do
tại sao chúng sanh đi từ nỗi khổ nầy tới đau thương khác như
căn bệnh nan y có nhiều di căn. Đức Phật chỉ dạy con đường
giải thoát khổ đau là đoạn tận chấp thủ đối với mọi căn cảnh
thô tế, lớn nhỏ. Tất cả nỗ lực phiến diện chỉ đem lại xoa
dịu nhất thời. Hành trình thoát khổ phải là một gia công
toàn diện.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘upādāniyesu, bhikkhave,
dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati.
Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā bhavo...pe...
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Tassa yāni ceva mūlāni
adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṃ ojaṃ
abhiharanti. Evañhi so, bhikkhave, mahārukkho tadāhāro
tadupādāno ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya. Evameva kho,
bhikkhave, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato
taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṃ...pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Ngự tại Sāvatthi.
-- Này chư Tỳ khưu, khi một người sống trong sự miên man đối
với vị ngọt của các pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do
duyên ái nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi
khởi; do duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ
uẩn tập khởi.
-- Này chư Tỳ khưu, ví như có một cây lớn với rễ ăn sâu
xuống, ăn ngang đem lại nhựa sống cho cây. Được nuôi như
vậy, được bồi dưỡng như vậy khiến cây có thể sống lâu dài.
Cũng vậy, khi
một người sống trong sự miên man đối với vị ngọt của các
pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do duyên ái nên thủ tập
khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do duyên hữu nên
sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu,
ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
‘‘Upādāniyesu, bhikkhave, dhammesu ādīnavānupassino viharato
taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Atha puriso āgaccheyya
kuddālapiṭakaṃ ādāya. So taṃ rukkhaṃ mūle chindeyya, mūlaṃ
chinditvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya
antamaso usīranāḷimattānipi. So taṃ rukkhaṃ khaṇḍākhaṇḍikaṃ
chindeyya, khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā phāleyya, phāletvā
sakalikaṃ sakalikaṃ kareyya, sakalikaṃ sakalikaṃ karitvā
vātātape visoseyya; vātātape visosetvā agginā ḍaheyya,
agginā ḍahetvā masiṃ kareyya, masiṃ karitvā mahāvāte vā
ophuṇeyya nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya. Evañhi so,
bhikkhave, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato
anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo. Evameva kho, bhikkhave,
upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā
nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā
bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
nirodho hotī’’ti. Pañcamaṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
khi một người sống trong sự suy tư đối với những nguy hiểm
của những pháp chấp thủ thì ái diệt; do duyên ái diệt nên
thủ diệt; do duyên thủ nên hữu diệt khởi; do duyên hữu nên
sanh diệt; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai
diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.
-- Này chư Tỳ khưu, ví như có một cây lớn. Rồi một người cầm
cuốc và giỏ đến. Người ấy đốn cây và đào gốc rễ lên. Người
ấy bứng lên lên rễ cái, rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây
thành từng khúc gỗ; rồi bửa ra thành củi, thành những miếng
nhỏ. Sau đó đem phơi nắng và chụm lửa. Khi củi cháy thành
tro người ấy rãi tro theo gió hay theo giòng sông. Cây lớn
đã bị đống, với tất cả rễ bị đào bứng lên không thể sống lại
như cây cây kè bị chặt ngọn, không thể hồi sinh ở tương lai.
Này chư Tỳ khưu, tương tự như vậy khi một người sống trong
sự suy tư đối với những nguy hiểm của những pháp chấp thủ
thì ái diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên
hữu diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ
uẩn đoạn diệt.
Chú Thích
Do bài kinh nầy nên tên gọi
phẩm kinh có hai dị bản. Một là phẩm khổ (dukkhavagga), hai
là phẩm cây (rukkhavangga)
Sớ giải đi vào chi tiết của
dụ ngôn như sau: cây lớn ví dụ cho thân sanh tử trong tam
giới. Rễ lớn nhỏ chỉ cho sáu căn. Nhựa sống nuôi cây chỉ cho
nghiệp tạo tác qua các căn môn. Sự sống lâu dài của cây ví
dụ cho dòng luân hồi đăng đẳng do nghiệp lực.
Trong thí dụ thứ hai, Sớ Giải
chú thích rằng: Người đốn cây ví dụ cho hành giả tu tập. Cái
cuốc đào là tri kiến. Cái giỏ là tam muội định. Thời gian
đốn cây chỉ cho những khoảnh khắc quán chiếu thiền án. Cắt
cây thành từng khúc nhỏ như khả năng phân tích tứ đại, danh
sắc, hay cảm thọ.. Rễ cái, rễ phụ lớn nhỏ chỉ cho các duyên
tạo nên danh sắc. Sự thiêu hủy cây củi lớn nhỏ như sự đoạn
tận kiết sử của bậc a la hán. Tro tàn chỉ cho đời sống trong
giai đoạn hữu dư niết bàn. Rãi tro theo gió hay giòng sông
như chứng vô dư niết bàn. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |