|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 03 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Tâm và cảnh của người tu tập
khác với người không tu tập là
khả năng sống với hiện tại. Sống
trong hiện tại đúng nghĩa là
biết rõ thân tâm trong thời khắc
vừa xẩy ra hay được gọi là chánh
niệm. Cái vì đã quả là sở tri
của chánh niệm quá khứ. Cái gì
chưa tới là là sở tri của chánh
niệm vị lai. Chánh niệm thật sự
là biết cái gì vừa sanh khởi.
Không hiểu được mấu chốt nầy là
không nắm rõ thế nào là chánh
niệm.
Sāvatthinidānaṃ.
Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ
ānandaṃ bhagavā etadavoca:
“Sace taṃ,
ānanda, evaṃ puccheyyuṃ:
‘katamesaṃ, āvuso ānanda,
dhammānaṃ uppādo paññāyittha,
vayo paññāyittha, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyittha?
Katamesaṃ dhammānaṃ uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati? Katamesaṃ
dhammānaṃ uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyatī’ti? Evaṃ puṭṭho tvaṃ,
ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
Đức Thế Tôn nói
với Tôn giả Ānanda đang ngồi một
bên:
—Này Ānanda, nếu
có người hỏi thầy:
“Này
Hiền giả Ānanda, những pháp nào
sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự
hoại diệt đã được thấy rõ, sự
biến đổi trong khi tồn tại đã
được thấy rõ?”
Những pháp nào sự sanh khởi sẽ
được thấy rõ, sự hoại diệt sẽ
được thấy rõ, sự biến đổi trong
khi tồn tại sẽ được thấy rõ?”
Những pháp nào sự sanh khởi
được thấy rõ, sự hoại
diệt được thấy rõ, sự biến đổi
trong khi tồn tại được thấy rõ?”
Nếu được hỏi
vậy, này Ānanda, thầy trả lời
như thế nào?
“Sace maṃ,
bhante, evaṃ puccheyyuṃ:
‘katamesaṃ, āvuso ānanda,
dhammānaṃ uppādo paññāyittha,
vayo paññāyittha, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyittha?
Katamesaṃ dhammānaṃ uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati? Katamesaṃ
dhammānaṃ uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyatī’ti? Evaṃ puṭṭhohaṃ,
bhante, evaṃ byākareyyaṃ:
—Bạch Đức Thế
Tôn, nếu có người hỏi con: “Này
Hiền giả Ānanda, những pháp nào
sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự
hoại diệt đã được thấy rõ, sự
biến đổi trong khi tồn tại đã
được thấy rõ?”
Những pháp nào
sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự
hoại diệt sẽ được thấy rõ, sự
biến đổi trong khi tồn tại sẽ
được thấy rõ?”
Những pháp nào
sự sanh khởi
được thấy rõ, sự hoại
diệt được thấy rõ, sự biến đổi
trong khi tồn tại được thấy rõ?”
” Bạch Đức Thế
Tôn, nếu được hỏi vậy con sẽ trả
lời như sau:
‘yaṃ kho, āvuso,
rūpaṃ atītaṃ niruddhaṃ
vipariṇataṃ; tassa uppādo
paññāyittha, vayo paññāyittha,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyittha. Yā vedanā atītā
niruddhā vipariṇatā; tassā
uppādo paññāyittha, vayo
paññāyittha, ṭhitāya aññathattaṃ
paññāyittha. Yā saññā … ye
saṅkhārā atītā niruddhā
vipariṇatā; tesaṃ uppādo
paññāyittha, vayo paññāyittha,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyittha. Yaṃ viññāṇaṃ atītaṃ
niruddhaṃ vipariṇataṃ; tassa
uppādo paññāyittha, vayo
paññāyittha, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyittha. Imesaṃ
kho, āvuso, dhammānaṃ uppādo
paññāyittha, vayo paññāyittha,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyittha.
“Này Hiền giả, đối với sắc quá
khứ, sự sanh khởi đã được thấy
rõ, sự hoại diệt đã được thấy
rõ, sự biến đổi trong khi tồn
tại đã được thấy rõ.
Đối với thọ quá khứ …
Đối thức quá khứ, sự sanh khởi
đã được thấy rõ, sự hoại diệt đã
được thấy rõ, sự biến đổi trong
khi tồn tại đã được thấy rõ.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu được hỏi con sẽ
trả lời như vậy.
Yaṃ kho, āvuso,
rūpaṃ ajātaṃ apātubhūtaṃ; tassa
uppādo paññāyissati, vayo
paññāyissati, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyissati. Yā
vedanā ajātā apātubhūtā; tassā
uppādo paññāyissati, vayo
paññāyissati, ṭhitāya
aññathattaṃ paññāyissati. Yā
saññā …pe… ye saṅkhārā ajātā
apātubhūtā; tesaṃ uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati. Yaṃ viññāṇaṃ
ajātaṃ apātubhūtaṃ; tassa uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati. Imesaṃ kho, āvuso,
dhammānaṃ uppādo paññāyissati,
vayo paññāyissati, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyissati.
“Này Hiền giả,
đối với sắc chưa sanh, sự sanh
khởi sẽ được thấy rõ, sự hoại
diệt sẽ được thấy rõ, sự biến
đổi trong khi tồn tại sẽđược
thấy rõ.
Đối với thọ chưa
sanh …
Đối thức chưa
sanh, sự sanh khởi sẽ được thấy
rõ, sự hoại diệt sẽ được thấy
rõ, sự biến đổi trong khi tồn
tại sẽ được thấy rõ.
Yaṃ kho, āvuso,
rūpaṃ jātaṃ pātubhūtaṃ; tassa
uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyati. Yā vedanā jātā
pātubhūtā …pe… yā saññā … ye
saṅkhārā jātā pātubhūtā; tesaṃ
uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyati. Yaṃ viññāṇaṃ jātaṃ
pātubhūtaṃ tassa uppādo
paññāyati, vayo paññāyati,
ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati.
Imesaṃ kho, āvuso, dhammānaṃ
uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyatī’ti. Evaṃ puṭṭhohaṃ,
bhante, evaṃ byākareyyan”ti.
“Này Hiền giả,
đối với sắc vừa sanh, sự sanh
khởi
được thấy rõ, sự hoại
diệt được thấy rõ, sự biến đổi
trong khi tồn tại được thấy rõ.
Đối với thọ vừa
sanh …
Đối với tưởng
vừa sanh…
Đối với hành vừa
sanh…
Đối thức vừa
sanh, sự sanh khởi được thấy rõ,
sự hoại diệt được thấy rõ, sự
biến đổi trong khi tồn tại được
thấy rõ.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu được hỏi con sẽ
trả lời như vậy.
“Sādhu sādhu,
ānanda. Yaṃ kho, ānanda, rūpaṃ
atītaṃ niruddhaṃ vipariṇataṃ;
tassa uppādo paññāyittha, vayo
paññāyittha, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyittha. Yā
vedanā … yā saññā … ye saṅkhārā
… yaṃ viññāṇaṃ atītaṃ niruddhaṃ
vipariṇataṃ; tassa uppādo
paññāyittha, vayo paññāyittha,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyittha. Imesaṃ kho, ānanda,
dhammānaṃ uppādo paññāyittha,
vayo paññāyittha, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyittha.
Yaṃ kho, ānanda,
rūpaṃ ajātaṃ apātubhūtaṃ; tassa
uppādo paññāyissati, vayo
paññāyissati, ṭhitassa
aññathattaṃ paññāyissati. Yā
vedanā … yā saññā … ye saṅkhārā
… yaṃ viññāṇaṃ ajātaṃ
apātubhūtaṃ; tassa uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati. Imesaṃ kho,
ānanda, dhammānaṃ uppādo
paññāyissati, vayo paññāyissati,
ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyissati.
Yaṃ kho, ānanda,
rūpaṃ jātaṃ pātubhūtaṃ; tassa
uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyati. Yā vedanā jātā
pātubhūtā … yā saññā … ye
saṅkhārā … yaṃ viññāṇaṃ jātaṃ
pātubhūtaṃ; tassa uppādo
paññāyati, vayo paññāyati,
ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati.
Imesaṃ kho, ānanda, dhammānaṃ
uppādo paññāyati, vayo
paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ
paññāyatīti.
Evaṃ puṭṭho
tvaṃ, ānanda, evaṃ
byākareyyāsī”ti.
—Tốt lắm,
này
Ānanda!
(Đức Phật lập
lại câu trả lời của Tôn giả
Ānanda)
Này Ānanda,
nếu được hỏi thầy nên trả
lời như vậy.
Chú Thích
Bài kinh nầy có ý nghĩa tổng
quát như bài kinh trước nhưng có
thêm khía cạnh quan trọng của
pháp hành là khả năng bám sát
với thực tại qua phương pháp
“sống trong hiện tại”.
Điểm lưu ý là sự tương thích của
ba thời đối với chánh niệm: đã
biết với quá khứ, sẽ biết với
tương lai.
Có một ý nghĩa gắn liền với ngữ
pháp mà trong tiếng Việt không
có đó là động từ chia theo “quá
khứ vừa qua” không thể xem là
hiện tại. Thí dụ trong cách nói
thông thường thì hiện tại là
“đang biết cái đai xẩy ra”
nhưng thực tế là là “biết
cái vừa xẩy ra”. Thí dụ như khi
nói “tâm sân biết là sân”. Biết
là chánh niệm, tâm sân là đối
tượng của chánh niệm. Năng tri
và sở tri không thể đồng sanh.
Do vậy không thể đang biết cái
đang xẩy ra.
Mặc dù nói là với ba mệnh đề:
“đã biết cái quá khứ, sẽ biết
cái chưa sanh, cái vừa sanh được
biết” nhưng tất cả đều mang
chung đặc tính là “sống trong
hiện tại (quá khứ không truy
tầm, tương lai không vọng tưởng,
tuệ quán chính là đây….) Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |