|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 04 tháng 04, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XIX Phẩm Chấp Pháp (Dhammaṭṭhavagga) Gồm 17 bài kệ với 10 duyên sự - Kệ số 13, 14 (dhp 268, 269)Chánh văn:
13. Người si mê dốt nát dù im lặng cũng không là bậc hiền
triết; Bậc trí là người chọn điều tốt, bỏ điều xấu, như
người cầm cái cân lên (chọn tốt bỏ xấu).
14. Người trí ấy là bậc hiền triết, vị ấy là bậc hiền triết
do chọn và bỏ đúng đắn. Người mà biết rõ cả hai đời, do điều
đó cũng được gọi là bậc hiền triết.
Duyên sự:
Hai bài kệ nầy đức Phật thuyết tại Sāvatthi, khi Ngài trú ở
Jetavanavihāra, vì chuyện các ngoại đao.
Phật giáo lúc sơ thời, đức Phật chưa cho phép các tỳ kheo
việc phúc chúc, tụng kinh cát tường cho thí chủ…v.v…Nên chư
tỳ kheo khi được mời đến nhà ăn, ăn xong không nói lời chúc
phúc tuỳ hỷ công đức của thí chủ mà đứng dậy ra về.
Phía ngoại đạo, tại những nơi được mời ăn, ăn xong họ nói
lời cát tường, chúc phúc cho mọi người: “Khemaṃ hotu sukhaṃ
hoti āyu vaḍḍhatu (xin cho người bình yên, xin cho người an
vui, xin cho người tăng tuổi thọ)”…v.v…
Dân chúng phàn nàn: “Gần các ngoại đạo, chúng ta còn được
nghe chúc an lành; các tôn giả nầy thì im lặng ra về”.
Chư tỳ kheo liền trình bạch sự việc ấy đến bậc Đạo sư. Bậc
Đạo sư đã cho phép:
“Này các tỳ kheo, từ nay các ngươi hãy chúc phúc tuỳ hỷ ở
nơi nhà ăn…v.v…hãy trò chuyện tiếp xúc, hãy thuyết pháp”.
Chư tỳ kheo đã làm theo như thế. Dân chúng được nghe phúc
chúc tuỳ hỷ công đức nên phấn khởi, thường xuyên thỉnh mời
các tỳ kheo, cúng dường trọng hậu.
Các ngoại đạo lại phàn nàn: “Chúng ta là bậc hiền triết mới
yên lặng, còn các đệ từ của Sa môn Gotama thì thuyết tụng
bát nháo tại những nơi nhà ăn”.
Bậc Đạo sư nghe được lời phàn nàn ấy, Ngài đã phán: “Này chư
tỳ kheo, ta không gọi bậc hiền triết chỉ vì thái độ im lặng.
Bởi lẽ có một số người không hiểu biết nên không nói, một số
người vì không tự tin nên không nói, một số người do bỏn xẻn
kiến thức không muốn người khác biết sở trường của mình nên
không nói. Do đó, im lặng chưa phải là hiền triết; Mà do yên
lặng các ác mới gọi là bậc triết”.
Nói xong, đức Thế Tôn đã thuyết hai bài kệ: Na monena munī
hoti…v.v…muni tena pavuccatī’ ti.
Cuối pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo đắc được thánh quá.
Lý giải:
Danh từ muni xuất phát từ ngữ căn mun, động từ munāti (hiểu
biết rõ ràng), do đó dịch là bậc hiền triết (người đạo đức
có trí tuệ).
Các ngoại đạo thời ấy lầm tưởng muni có liên hệ với danh từ
mona (sự im lặng), mới bảo nhau rằng: Chúng ta là bậc hiền
triết giữ im lặng (Mayaṃ munino monaṃ karoma).
Đức Phật dạy các tỳ kheo: “Đâu phải do im lặng mà thành bậc
hiền triết” (na monena muni hoti). Có nghĩa là, im lặng cái
miệng, tịnh khẩu, không nói chuyện, nhưng si mê ngu dốt thì
đâu phải là bậc hiền triết.
Lại nữa, hai câu cuối của bài kệ 268 phải ghép chung với hai
câu đầu của bài kệ 269 mới tròn nghĩa:
…Yo ca tulaṃ’ va pagayha
“Bậc hiền trí là người mà chọn điều tốt bỏ điều xấu như
người cầm cân, vị ấy là bậc hiền sĩ, do tính cách đó nên
thành bậc hiền triết”
Một lẽ nữa, ai biết rõ cả hai đời, bởi ý nghĩa đó cũng được
gọi là bậc hiền triết (yo munāti ubho loke muni tena
pavuccati). Cả hai đời, có nghĩa thế giới bên trong (tức ngũ
uẩn) và thế giới bên ngoài (tức vạn vật vũ trụ), cả hai thế
giới ấy đều là vô thường, khổ, vô ngã. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |