|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 05, tháng 04, 2024 Bài giảng bổ túc... TU TIẾN VỚI ĐỀ TÀI BỐN PHẠM TRÚ (Brahmavihāra)
Trích từ CƯ SĨ GIỚI PHÁP do Tỳ kheo Giác Giới (Bodhisīla
Bhikkhu) biên soạn
TU TIẾN VỚI ĐỀ TÀI BỐN PHẠM TRÚ (Brahmavihāra)
Bốn phạm
trú là an trú tâm từ, an trú tâm bi, an trú tâm hỷ, và an
trú tâm xả. Bốn đức tính từ, bi, hỷ, xả này được gọi là phạm
trú vì là bốn pháp an trú cao cả, tốt đẹp, và vô nhiễm; lại
cũng có nghĩa là hành giả an trú với bốn đặc tính này, ngang
hàng với các vị trời phạm thiên, bởi các vị phạm thiên cũng
trú với tâm vô nhiễm tốt đẹp (Vism.IX, 106).
Bốn phạm
trú là đề tài thiền chỉ, đưa đến đắc chứng định. Nếu không
như vậy cũng sẽ mang lại nhiều lợi lạc về phước đức cho
người tu tập. Người cư sĩ nên tu tập và an trú với bốn phạm
trú này.
Tu tập tâm từ (Mettā)
Tâm từ là
trạng thái không hận, không sân, hiền hòa mát mẻ đối với
chúng sanh. Tâm từ phá tan sự bực tức nóng giận, nhưng không
phải là thái độ luyến ái yêu thương ích kỷ.
Một người
muốn tu tập tâm từ, trước hết phải ổn định tâm lý. Sau khi
đi đến chỗ yên tĩnh thoải mái hãy suy xét sự nguy hiểm của
lòng sân hận và sự lợi lạc của tâm hiền hòa. Nếu hành giả
ngay lúc ấy đang bực bội trong tâm thì không thể tiến hành
tu tập tâm từ được, nếu không thấy sự lợi lạc của tâm vô sân
thì chẳng có hứng thú tu tập.
Hành giả
nên thăm dò nội tâm: "giờ đây tâm này có sân hay không có
sân? ta đang thoải mái hay bực bội ưu phiền? ". Nếu dò xét
như vậy hành giả cảm nhận tâm mình đang thoải mái thì tiếp
tục tiến hành niệm "tâm từ"; bằng như cảm nhận được mình
đang có sân giận ưu phiền thì hãy suy nghĩ đến sự tai hại
của tâm sân: "thật là khổ sở khi sống với tâm sân! thật là
khó chịu khi bị sân tâm chi phối! thật là nguy hiểm khi con
người bị ám ảnh bởi sân!" rồi hành giả hãy nên đình chỉ sân
tư duy bằng cách nhẫn nại và tác ý đến một thiện pháp hoặc
tác ý niệm hơi thở. Sau khi đã thật sự có tâm yên bình thoải
mái trở lại mới bắt đầu tiến hành niệm "tâm từ".
Hành giả
tiến hành niệm tâm từ như sau:
Thoạt
đầu, hành giả nên trú tâm từ với chính bản thân, bằng cách
lập đi lập như sau: "mong rằng ta được an lạc, thoát khỏi
hận thù, không buồn khổ, âu lo". Đó là bước sơ khởi trú niệm
tâm từ. Đến khi nội tâm thật sự an lạc, không sân, không hận
thì hành giả tưởng đến chúng sanh khác với ước mong.
"Mong cho
chúng sanh được an lạc, thoát khỏi hận thù, không buồn khổ
âu lo". Thỉnh thoảng hành giả trải tâm từ đến chính mình để
làm cho tâm dễ chịu rồi tiếp tục trải tâm từ đến các chúng
sanh khác như thế.
Nên nhớ
rằng, đôi khi hành giả nghĩ đến bao quát chúng sanh sẽ làm
cho tâm hành giả dửng dưng, bởi thế phải trải tâm từ tuần
tự; nhưng phải bắt đầu từ những vị thầy khả kính, tiếp đến
là những bạn rất thân, tiếp tục là những người thương, tiếp
tục nữa là những người xa lạ, rồi sau cùng là những người
đối nghịch. Người đối nghịch ở đây là những người ác xấu
không đồng chí hướng chớ không phải là kẻ mình thù ghét, bởi
vì đối với hành giả tu tâm từ thì không thấy ai là kẻ thù.
Sở dĩ phải trải tâm từ tuần tự hạng chúng sanh như vậy là vì
để dẫn dắt tâm dễ dàng trú trong niềm an lạc, không bị những
cú sốc tâm lý.
Người tu
tập tâm từ sẽ có được mười một điều lợi ích: ngủ an vui,
thức an vui, không chiêm bao ác mộng, được người khác yêu
mến, được phi nhân yêu mến, được chư thiên hộ trì, không bị
lửa hay khí giới hoặc thuốc độc làm hại, tâm người ấy dễ
định tỉnh, nét mặt khinh an, khi chết tâm không rối loạn,
nếu còn tái sanh sẽ sanh vào phạm thiên giới. Những lợi lạc
này sẽ có đến ai tu tập an trú liên tục trong tâm từ.
Tu tập tâm bi (Karuṇā)
Tâm bi là
trạng thái tâm trắc ẩn trước những chúng sanh đang đau khổ,
phận sự của tâm bi là muốn chúng sanh thoát khổ, sự biểu
hiện của tâm bi là không tàn nhẫn. Sự bạo tàn là thái độ
tương phản của tâm bi; nhưng tâm bi cũng không phải là thái
độ lụy phiền vì người khác.
Một người
muốn tu tập tâm bi, trước hết cần phải ổn định tâm lý bằng
cách quán sát sự nguy hiểm của sự tàn bạo, và suy xét lợi
ích của tâm bi mẫn. Đây là trường hợp phải làm đối với hành
giả sơ cơ mới bắt đầu tu tập, vị ấy còn phiền não dễ khởi
tâm não hại; nếu khởi lên hại tư duy sẽ làm trở ngại tu tập
tâm bi; nếu không thấy lợi lạc của tâm trú bất hại thì sẽ
không hứng thú tu tiến.
Hành giả
tác ý dò xét nội tâm "giờ đây tâm ta còn oán hận não hại
chăng?" Nếu biết tâm còn u ẩn niềm hận thù, hãy suy nghĩ đến
nỗi khổ tâm phiền toái, mất hạnh phúc, do ôm ấp hận thù;
nghĩ đến điều tổn đức do sống trong hận thù; nghĩ đến thiệt
hại lớn do lòng hận thù gây nên ... nghĩ như vậy cho đến khi
hành giả cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái vì không còn ám ảnh
bởi hận thù, bắt đầu hành giả niệm bi tâm.
Đối tượng
của tâm si là chúng sanh đang đau khổ hoặc sẽ đau khổ.
Bởi thế
trước hết hãy nghĩ đến một chúng sanh đang đau khổ nhưng
không phải là kẻ thù, rồi khởi lên tâm bi mẫn đối với nạn
nhân ấy như sau:
"Khổ thay
cho chúng sanh này, mong sao chúng sanh ấy thoát khỏi khổ
đau!". Nếu hành giả thấy một người đang bất hạnh chịu nhiều
thống khổ thì cũng hãy khởi tâm bi mẫn đối với người ấy bằng
cách như vậy.
Thấy một
kẻ thù đang đau khổ, hành giả phải làm lắng dịu hiềm hận rồi
mới khởi tâm bi được.
Một
trường hợp khác, hành giả có thể khởi tâm bi mẫn đối với một
kẻ làm ác mặc dù họ vẫn đang vui vẻ; bằng cách là suy nghĩ
rằng: "chúng sanh này mặc dù đang vui vẻ nhưng vì nó đã tạo
ác nghiệp nên chắc chắn nó sẽ bị khổ trong cảnh địa ngục.
Thật đáng thương!". Trường hợp này giống như mình thấy một
kẻ tử tù đang ăn bữa ăn ngon ân huệ để rồi bị xử tử vậy.
Hoặc hành
giả có thể khởi tâm bi mẫn đối với tất cả chúng sanh bằng
cách nghĩ rằng: "Vì chưa thoát khỏi luân hồi, nên các chúng
sanh này sẽ phải bị khổ do sự già, bệnh, chết, hoành hành.
Thật sự đáng thương!"
Hành giả
tu tập tâm bi cần giữ thái độ bình đẳng và khách quan đối
với chúng sanh. Nếu không, sẽ bị nhức nhói khi thấy người
thân bất hạnh hoặc sẽ mãn nguyện khi thấy kẻ thù bất hạnh.
Hãy nghĩ rằng "chúng sanh này ..."
Hành giả
tu tập tâm bi sẽ có được mười một lợi lạc như tu tâm từ vậy.
Tu tập tâm hỷ (Muditā)
Tâm hỷ là
trạng thái vui thích, hài lòng với sự thành đạt của người
khác, đặc tính của tâm hỷ là không ganh tỵ, sự biểu hiện của
tâm hỷ là xua tan sự bất mãn.
Thái độ
ganh ghét sự hạnh phúc của chúng sanh khác là thái độ tương
phản của tâm hỷ; nhưng thái độ tán thành sự xa hoa trụy lạc
hay hạnh phúc bất chánh của người khác, cũng không phải đúng
nghĩa của tâm hỷ.
Một người
muốn tu tập tâm hỷ, trước hết trải rộng tâm bằng cách dẹp bỏ
ý niệm tự hào về mình, tự hào về người thân của mình, bởi
khi tự hào như thế mà thấy người dưng thành đạt hạnh phúc
thì tâm hành giả sẽ thấy khó chịu bực bội.
Nếu hành
giả có tánh hay ganh tỵ thì hãy suy xét hậu quả tệ hại của
lòng tật đố, như sau: "chỉ có người tâm ích kỷ nhỏ mọn mới
ganh tỵ kẻ khác", hay "người khác có tâm ganh tỵ sẽ bị quả
báo sanh ra ở đời làm người thua sút thế cô" (M.III, kinh
Tiểu nghiệp phân biệt).
Và để mở
rộng thêm tấm lòng, hãy suy xét đến lợi lạc an vui của tâm
hỷ, như sau: "người không ganh tỵ sẽ sống thoải mái" hay
"sống không ganh tỵ là một đức độ khiến cho người có địa vị
cao" v.v...
Sau khi
đã làm cho tâm hân hoan trải rộng, hành giả trước tiên hãy
biến mãn tâm hỷ với một người bạn tốt, vì người bạn tốt
không làm cho hành giả chi phối niềm vui ích kỷ mà cũng
không làm cho tâm hành giả gượng gạo miễn cưỡng. Khi thấy
hay nghe một người bạn thân được hạnh phúc thành đạt, hành
giả khởi lên tâm hỷ như sau: "thật là vui cho người này!
người này đã được hạnh phúc, mong rằng người này luôn luôn
lợi lạc".
Sau khi
khởi tâm hỷ đối với người bạn tốt, hành giả có thể hướng tâm
ấy tuần tự đến một người thân, rồi đến một người dưng (không
thân không thù), và cuối cùng là hướng tâm hỷ với một người
thù.
Nếu khi
nhớ đến kẻ thù mà tâm hỷ không có được, trái lại niềm hận
khởi lên, thì hành giả nên làm cho nó lắng xuống theo cách
đã nói trong phần niệm tâm từ (mettā).
Hành giả
nên phá rào ngăn tâm bình đẳng các đối tượng, nghĩa là bằng
cách nào cho tâm thoải mái nghĩ đến sự hạnh phúc của người
khác như đã thoải mái với hạnh phúc của chính mình.
Do tu
tập, đào luyện tướng tâm ấy thường xuyên, hành giả có thể
tăng cường định cho đến tam thiền, tứ thiền được.
Dù chưa
đạt đến định của thiền, nhưng hành giả tu tập biến mãn tâm
hỷ như vậy cũng sẽ có những lợi lạc như "ngủ an vui, thức an
vui" v.v...
Tu tập tâm xả (Upekkhā)
Tâm xả
phạm trú không phải là thọ xả phi khổ phi lạc; xả đây là
trạng thái quân bình của tâm, không chi phối bởi ưa và ghét,
dễ chịu và khó chịu.
Vị hành
giả muốn tu tập tâm xả, cần phải trải qua cảm nghiệm từ, bi
và hỷ, vì khi đã quen thuộc với cảm giác bị động tâm bởi sự
hạnh phúc hay đau khổ của chúng sanh, bấy giờ hành giả mới
thấy được sự an bình lợi lạc vi tế trong xả phạm trú được.
Do đó,
hành giả tu tập xả với chúng sanh, bằng cách nhìn với tâm
thản nhiên, nghĩ rằng: "Tất cả chúng sanh có nghiệp riêng,
chúng sanh thừa hưởng quả của hành động mà chính họ đã tạo,
có vui có khổ là do duyên nghiệp". Bằng cách đó hành giả sẽ
trú với tâm bình thản khi trông thấy chúng sanh khác, dù họ
đang hạnh phúc hay đau khổ.
Trước
đây, hành giả đối với một người dưng, không thân không thù,
thì tâm nhìn người ấy thản nhiên, chẳng có gì bận tâm dù
người ấy đang vui hay khổ. Nay tu tập tâm xả, hành giả cũng
nên khơi dậy tâm xả ấy với một người thân, một kẻ thù ...
nhìn bất cứ ai cũng với trạng thái thản nhiên như thể đã đối
với người dưng, vì thấy rõ nghiệp lực ở mỗi người.
Tại sao,
hành giả phải tiến đến tu tập tâm xả?
Trong chú
giải thanh tịnh đạo có thí dụ, cũng như một người mẹ có bốn
đứa con, một đứa còn bé, một đứa bị bệnh tật, một đứa đang
thành đạt, và một đứa đã nên danh phận. Người mẹ sẽ tưng tiu
làm vui đứa con bé nhỏ, sẽ chăm nom an ủi đứa con bệnh tật,
sẽ vui mừng với đứa con đang thành đạt, và sẽ không bận tâm
gì nữa với đứa con đã nên danh phận. Đây là thí dụ cho tâm
của hành giả tuần tự an trú từ, bi, hỷ, xả đối với chúng
sanh.
Về lợi
lạc, hành giả trú biến mãn với tướng tâm xả một cách thuần
thục sẽ đạt đến tứ thiền (nói bốn bậc) hay ngũ thiền (nói
năm bậc), một trạng thái thiền xả niệm thanh tịnh. Cho dù
không đạt đến thiền chứng chăng nữa thì với tâm trú xả biến
mãn như vậy cũng làm cho hành giả được nhiều lợi lạc như
"ngủ an vui, thức an vui" v.v...
Dứt phần
tu tiến với đề tài bốn phạm trú. ... @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |