|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 06 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
285. Kinh Thuận Pháp
(Anudhammasuttaṃ)
Tập III
Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phẩm
Không Phải Của Các Thầy
(SII,324)
Đạo giải thoát khởi sự từ nhận
thức rõ bản chất vô thường, khổ,
vô ngã của năm uẩn. Không buông
xả hệ luỵ trần gian thì chẳng
thể cầu đạo xuất thế.
Không có chuyện một chân
đứng bờ nầy, một chân đứng bờ
kia giữa niết bàn và sanh tử. Từ
sự tu tập và giác ngộ, hành giả
có khả năng buông xả đối với năm
uẩn. Có cái mầu nhiệm tự đến khi
đối với sắc, thọ, tưởng, hành,
thức không bám chấp: đây là của
ta, là ta, là tự ngã của ta.
Sāvatthinidānaṃ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa,
bhikkhave, bhikkhuno
ayamanudhammo hoti
yaṃ rūpe
nibbidābahulo vihareyya,
vedanāya nibbidābahulo
vihareyya, saññāya nibbidābahulo
vihareyya, saṅkhāresu
nibbidābahulo vihareyya, viññāṇe
nibbidābahulo vihareyya. Yo rūpe
nibbidābahulo viharanto,
vedanāya … saññāya … saṅkhāresu
nibbidābahulo viharanto, viññāṇe
nibbidābahulo viharanto rūpaṃ
parijānāti, vedanaṃ … saññaṃ …
saṅkhāre … viññāṇaṃ parijānāti,
so rūpaṃ parijānaṃ, vedanaṃ …
saññaṃ … saṅkhāre … viññāṇaṃ
parijānaṃ parimuccati rūpamhā,
parimuccati vedanāya,
parimuccati saññāya, parimuccati
saṅkhārehi, parimuccati
viññāṇamhā, parimuccati jātiyā
jarāmaraṇena sokehi paridevehi
dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
parimuccati dukkhasmāti
vadāmī”ti.
Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Ðối với một tỳ khưu thực hành
pháp và thuận pháp, đây là điều
thuận hợp với pháp: Vị ấy
sống
thường nhiều yếm ly đối với sắc;
đối với thọ, đối với tưởng, đối
với hành, đối với thức,
Ai sống thường nhiều yếm ly đối
với sắc; đối với thọ, đối với
tưởng, đối với hành, đối với
thức, người ấy liễu tri sắc,
liễu tri thọ, liễu tri tưởng,
liễu tri , hành, liễu tri thức.
Do liễu tri sắc, liễu tri thọ,
liễu tri tưởng, liễu tri , hành,
liễu tri thức, vị ấy được giải
thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi
thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải
thoát khỏi các hành, giải thoát
khỏi thức, giải thoát khỏi sanh,
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau
khổ.
286. Kinh Thuận Pháp II (Dutiya-anudhammasuttaṃ)
Tập III –
Uẩn
Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm
Không Phải Của Các Ông
(S,II,325)
Sāvatthinidānaṃ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa,
bhikkhave, bhikkhuno
ayamanudhammo hoti yaṃ rūpe
aniccānupassī vihareyya …pe…
parimuccati dukkhasmāti
vadāmī”ti.
—Ðối với một tỳ
khưu thực hành pháp và thuận
pháp, đây là điều thuận hợp với
pháp: Vị ấy sống tùy quán vô
thường trong sắc, trong thọ,
trong tưởng, trong hành, trong
thức. Ai sống tùy quán vô thường
đối với sắc; đối với thọ, đối
với tưởng, đối với hành, đối với
thức, người ấy liễu tri sắc,
liễu tri thọ, liễu tri tưởng,
liễu tri , hành, liễu tri thức.
Do liễu tri sắc, liễu tri thọ,
liễu tri tưởng, liễu tri hành,
liễu tri thức, vị ấy được giải
thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi
thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải
thoát khỏi các hành, giải thoát
khỏi thức, giải thoát khỏi sanh,
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau
khổ.
287.Kinh Thuận Pháp III (Tatiya-anudhammasuttaṃ)
Tập III –
Uẩn
Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm
Không Phải Của Các Ông
(S,II,326)
Sāvatthinidānaṃ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa,
bhikkhave, bhikkhuno
ayamanudhammo hoti yaṃ rūpe
dukkhānupassī vihareyya …pe…
parimuccati dukkhasmāti
vadāmī”ti.
—Ðối với một tỳ
khưu thực hành pháp và thuận
pháp, đây là điều thuận hợp với
pháp: Vị ấy sống tùy quán khổ
trong sắc, trong thọ, trong
tưởng, trong hành, trong thức.
Ai sống tùy quán khổ đối với
sắc; đối với thọ, đối với tưởng,
đối với hành, đối với thức,
người ấy liễu tri sắc, liễu tri
thọ, liễu tri tưởng, liễu tri ,
hành, liễu tri thức. Do liễu tri
sắc, liễu tri thọ, liễu tri
tưởng, liễu tri hành, liễu tri
thức, vị ấy được giải thoát khỏi
sắc, giải thoát khỏi thọ, giải
thoát khỏi tưởng, giải thoát
khỏi các hành, giải thoát khỏi
thức, giải thoát khỏi sanh, già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai. Ta
nói vị ấy giải thoát khỏi đau
khổ.
288. Kinh Thuận Pháp IV (Catuttha-anudhammasuttaṃ)
Tập III –
Uẩn
Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phần I-Phẩm
Không Phải Của Các Ông
(S,II,327)
Sāvatthinidānaṃ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa,
bhikkhave, bhikkhuno
ayamanudhammo hoti yaṃ rūpe
anattānupassī vihareyya,
vedanāya … saññāya … saṅkhāresu
… viññāṇe anattānupassī
vihareyya.
Yo rūpe anattānupassī viharanto …pe…
rūpaṃ parijānāti, vedanaṃ …
saññaṃ … saṅkhāre … viññāṇaṃ
parijānāti, so rūpaṃ parijānaṃ,
vedanaṃ … saññaṃ … saṅkhāre …
viññāṇaṃ parijānaṃ parimuccati
rūpamhā, parimuccati vedanāya,
parimuccati saññāya, parimuccati
saṅkhārehi, parimuccati
viññāṇamhā, parimuccati jātiyā
jarāmaraṇena sokehi paridevehi
dukkhehi domanassehi upāyāsehi,
parimuccati dukkhasmāti
vadāmī”ti.
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
—Ðối với một tỳ
khưu thực hành pháp và thuận
pháp, đây là điều thuận hợp với
pháp: Vị ấy sống tùy quán khổ
trong sắc, trong thọ, trong
tưởng, trong hành, trong thức
Ai
sống tùy quán vô ngã đối với
sắc; đối với thọ, đối với tưởng,
đối với hành, đối với thức,
người ấy liễu tri sắc, liễu tri
thọ, liễu tri tưởng, liễu tri ,
hành, liễu tri thức. Do liễu tri
sắc, liễu tri thọ, liễu tri
tưởng, liễu tri hành, liễu tri
thức, vị ấy được giải thoát khỏi
sắc, giải thoát khỏi thọ, giải
thoát khỏi tưởng, giải thoát
khỏi các hành, giải thoát khỏi
thức, giải thoát khỏi sanh, già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai. Ta
nói vị ấy giải thoát khỏi đau
khổ.
Chú Thích
Cụm từ dhammānudhammapatipanna
– hành pháp và thuận pháp -
thường được dịch là hành pháp và
tuỳ pháp được Sớ giải chú thích
là “khi vị ấy khởi sự thực hành
thì đã thuận hợp với 9 pháp xuất
thế là 4 đạo, 4 quả, và niết
bàn. (Navannam loku
taradhammānam anulomadhammam
pubbabhāgapatipadam (Cp.
I, n. 34).
Sự giải thoát được hiểu là đích
điểm có hai mặt: liễu tri sanh
tử và chứng ngộ niết bàn. Chỉ có
với ý nghĩa nầy thì mới gọi là
“giác ngộ sanh tử và niết bàn
không khác”. Trên phương diện hệ
luận đây là một trình tự, dù chỉ
chốc thoáng: Ai sống thuận pháp
đối với sắc; đối với thọ, đối
với tưởng, đối với hành, đối với
thức, người ấy liễu tri sắc,
liễu tri thọ, liễu tri tưởng,
liễu tri , hành, liễu tri thức.
Do liễu tri sắc, liễu tri thọ,
liễu tri tưởng, liễu tri hành,
liễu tri thức, vị ấy được giải
thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi
thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải
thoát khỏi các hành, giải thoát
khỏi thức, giải thoát khỏi sanh,
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau
khổ.
Chữ nibbidā thường được dịch là yểm ly hay nhàm chán là
trạng thái không mong cầu, không
tha thiết, không vướng mắc đối
với năm uẩn hay các pháp hữu vi.
Trạng thái nầy nằm trong trình
độ tu chứng cao mà sự viên mãn
là quả vị ứng cúng a la hán. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |