|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 09 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Trong cùng một bài kinh có hai
phân đoạn: Một nói về chính ta
là nơi nương tựa thật sự của ta;
hai là nói về thực tại vô ngã
vốn không có cái ta ở năm uẩn.
Đúng là một bài kinh khó nuốt
như ý nghĩa thiền cảnh “phi
tưởng phi phi tưởng” trong
samatha; hay “sắc bất dị không,
không bất dị sắc” trong giáo lý
Bát nhã của Phật giáo Đại Thừa;
hoặc “Trang Chu mộng hồ điệp”
của Nam Hoa Kinh. Vấn đề nằm ở
nhận thức của tâm thuật. Nói nôm
na như người miền quê: “Đi ngang
cầu khỉ phải cẩn thận mà càng
cẩn thận thì càng sợ, càng sợ
thì càng đễ té” Không biết sợ
không được mà sợ quá cũng không
nên. Giữa lằn ranh của hai
nghịch lý là TRUNG ĐẠO.
Sāvatthinidānaṃ.
“Attadīpā, bhikkhave, viharatha
attasaraṇā anaññasaraṇā,
dhammadīpā dhammasaraṇā
anaññasaraṇā.
Nhân duyên ở
Sāvatthi.
—Này
chư tỳ khưu, hãy sống với
chính mình là hải đảo, chính
mình là nơi nương tựa, không
nương tựa một gì khác. Hãy sống
với Pháp là hải đảo, lấy Pháp
chỗ tựa nương, không nương tựa
một gì khác.
Attadīpānaṃ, bhikkhave, viharataṃ
attasaraṇānaṃ anaññasaraṇānaṃ,
dhammadīpānaṃ dhammasaraṇānaṃ
anaññasaraṇānaṃ yoni
upaparikkhitabbā ‘Kiṃjātikā
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā,
kiṃpahotikā’ti?
Khi sống với
chính mình là hải đảo, chính
mình là nơi nương tựa, không
nương tựa một gì khác. Khi sống
với Pháp là hải đảo, lấy Pháp
chỗ tựa nương, không nương tựa
một gì khác, hãy khéo suy tư:
“Sầu
muộn, bi thảm, khổ sở, lo lắng,
than khóc
sanh
khởi từ căn nguyên nào? Cái gì
sản sinh ra chúng?”
Kiṃjātikā ca, bhikkhave,
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā,
kiṃpahotikā? Idha, bhikkhave,
assutavā puthujjano ariyānaṃ
adassāvī ariyadhammassa akovido
ariyadhamme avinīto,
sappurisānaṃ adassāvī
sappurisadhammassa akovido
sappurisadhamme avinīto, rūpaṃ
attato samanupassati, rūpavantaṃ
vā attānaṃ; attani vā rūpaṃ,
rūpasmiṃ vā attānaṃ. Tassa taṃ
rūpaṃ vipariṇamati, aññathā ca
hoti. Tassa
rūpavipariṇāmaññathābhāvā
uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Này chư tỳ khưu,
“Sầu muộn, bi thảm, khổ sở, lo
lắng, than khóc sanh khởi từ căn
nguyên nào? Cái gì sản sinh ra
chúng?”
Này chư tỳ khưu,
ở đây phàm phu không học hiểu,
không thành thạo, không tu tập
đạo lý của các bậc thánh; không
học hiểu, không thành thạo,
không tu tập đạo lý của các bậc
thiện trí xem sắc là ngã, ngã là
sắc, trong sắc có ngã, trong ngã
có sắc. Khi sắc thay đổi, hoại
diệt khiến kẻ ấy sầu muộn, bi
thảm, khổ sở, lo lắng, than
khóc.
Vedanaṃ attato samanupassati,
vedanāvantaṃ vā attānaṃ; attani
vā vedanaṃ, vedanāya vā attānaṃ.
Tassa sā vedanā vipariṇamati,
aññathā ca hoti. Tassa
vedanāvipariṇāmaññathābhāvā
uppajjanti sokaparideva …pe…
pāyāsā.
Saññaṃ attato samanupassati …
saṅkhāre attato samanupassati …
viññāṇaṃ attato samanupassati,
viññāṇavantaṃ vā attānaṃ; attani
vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā
attānaṃ. Tassa taṃ viññāṇaṃ
vipariṇamati, aññathā ca hoti.
Tassa
viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā
uppajjanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Vị ấy xem thọ là ngã, ngã là thọ
…
Vị ấy xem tưởng
là ngã, ngã là tưởng …
Vị ấy xem hành
là ngã, ngã là hành …
Vị ấy xem thức
là ngã,
ngã là thức, trong thức có ngã,
trong ngã có thức. Khi thức thay
đổi, hoại diệt khiến kẻ ấy sầu
muộn, bi thảm, khổ sở, lo lắng,
than khóc.
Rūpassa tveva, bhikkhave, aniccataṃ
viditvā vipariṇāmaṃ virāgaṃ
nirodhaṃ, ‘pubbe ceva rūpaṃ
etarahi ca sabbaṃ rūpaṃ aniccaṃ
dukkhaṃ vipariṇāmadhamman’ti,
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya passato ye
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
te pahīyanti. Tesaṃ pahānā na
paritassati, aparitassaṃ sukhaṃ
viharati, sukhavihārī bhikkhu
‘tadaṅganibbuto’ti vuccati.
Nhưng này chư tỳ
khưu, một người hiểu biết sự vô
thường của sắc, sự thay đổi, sự
tan biến, sự hoại diệt của sắc,
vị ấy quán triệt với chánh trí:
“Trong quá khứ cũng như hiện
tại, tất cả sắc đều vô thường,
thay đổi, tan biến, hoại diệt”
thì
những sầu muộn, bi thảm, khổ sở,
lo lắng, than khóc được buông
xả; do buông xả vị ấy không giao
động; do không giao động vị ấy
sống an lạc; do an lạc vị ấy thể
nhập trạng thái thanh lương trên
phương diện ấy.
Vedanāya …
Saññāya …
Saṅkhārānaṃ ….
Viññāṇassa tveva, bhikkhave,
aniccataṃ viditvā vipariṇāmaṃ
virāgaṃ nirodhaṃ, ‘pubbe ceva
viññāṇaṃ etarahi ca sabbaṃ
viññāṇaṃ aniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhamman’ti, evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
passato ye
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā
te pahīyanti. Tesaṃ pahānā na
paritassati, aparitassaṃ sukhaṃ
viharati, sukhavihārī bhikkhu
‘tadaṅganibbuto’ti vuccatī”ti.
Một người hiểu
biết sự vô thường của thọ …
Một người hiểu
biết sự vô thường của tưởng…
Một người hiểu
biết sự vô thường của hành
Này chư tỳ khưu,
một người hiểu biết sự vô thường
của thức, sự thay đổi, sự tan
biến, sự hoại diệt của thức, vị
ấy quán triệt với chánh trí:
“Trong quá khứ cũng như hiện
tại, tất cả thức đều vô thường,
thay đổi, tan biến, hoại diệt”
thì những sầu muộn, bi thảm, khổ
sở, lo lắng, than khóc được
buông xả; do buông xả vị ấy
không giao động; do không giao
động vị ấy sống an lạc; do an
lạc vị ấy thể nhập trạng thái
thanh lương trên phương diện ấy.
Chú Thích
Bài kinh ngắn nầy có nhiều điểm
tế nhị “khó tiêu hoá” trên cả ba
phương diện từ vựng, ý nghĩa, và
sự thực hành.
Trên phương diện từ vựng, chữ
dīpa
trong Phạm ngữ có hai nghĩa là
ngọn đèn và hòn đảo nên tạo
thành hai cách dịch quen thuộc
như Phật ngôn tương tự trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Hãy tự
mình thắp đuốc mà đi” hoặc “Hãy
là hòn đảo cho mình nương tựa”.
Bản dịch nầy chọn ý nghĩa thứ
hai vì có Phật ngôn: Hãy tự mình
lám hòn đảo, sóng nước khó ngập
tràn. Cả năm bản dịch Anh ngữ
đương đại đều chọn chữ “island”
Trên phương diện nghĩa lý thì
câu “hãy sống với chính mình là
hải đảo, chính mình là nơi nương
tựa, không nương tựa một gì
khác. Hãy sống với Pháp là hải
đảo, lấy Pháp chỗ tựa nương,
không nương tựa một gì khác”.
Thoạt nghe như mâu thuẩn vì có
mệnh đề “không nương tựa một gì
khác” nhưng lại nêu ra hai điểm
tựa là “tự thân” và “Pháp”. Dễ
thấy được tôn ý của Đức Phật khi
nói hai câu liền nhau: phải tự
thân hiểu biết, thực hành Pháp
thì mới nếm trãi được sự an
tịnh, hạnh phúc. Hai cách nói
nhưng cùng một biểu đạt nhất
quán.
Trên phương diện thực hành,
thoạt nghe “chính ta là nơi
tương tựa của ta” giống như nhấn
mạnh về “chân ngã” nhưng trong
đoạn sau: Ở đây phàm phu không
học hiểu, không thành thạo,
không tu tập đạo lý của các bậc
thánh; không học hiểu, không
thành thạo, không tu tập đạo lý
của các bậc thiện trí xem sắc là
ngã, ngã là sắc, trong sắc có
ngã, trong ngã có sắc. Khi sắc
thay đổi, hoại diệt khiến kẻ ấy
sầu muộn, bi thảm, khổ sở, lo
lắng, than khóc. Vị ấy xem thọ
là ngã, ngã là thọ …Vị ấy xem
tưởng là ngã, ngã là tưởng …Vị
ấy xem hành là ngã, ngã là hành
…Vị ấy xem thức là ngã, ngã là
thức, trong thức có ngã, trong
ngã có thức. Khi thức thay đổi,
hoại diệt khiến kẻ ấy
sầu
muộn, bi thảm, khổ sở, lo lắng,
than khóc.
Khổ đau ở đây là những thực tại
tâm lý sầu muộn, bi thảm, khổ
sở, lo lắng, than khóc. Dù nói
thế nào thì còn những tâm thái
nầy thì còn đau khổ. Còn đau khổ
tức là chưa thật sự liễu tri.
Nguyên nhân của khổ đau là chấp
ngã bốn cách: lấy riêng làm
chung (sắc là ngã), lấy chung
làm riêng (ngã là sắc), chủ quan
đặc hữu (trong sắc có tự ngã),
chủ quan phổ quát (trong tự ngã
có sắc).
Sự diệt khổ ở đây là trạng thái
thanh lương, mát dịu, loại trừ
nhiệt não (nibbuto). Cụm từ
tadanganibbuto được chuyển ngữ
là “thể nhập trạng thái thanh
lương trên phương diện ấy” hàm ý
“chấp ngã đối với sắc, thì khổ
vì sắc. Không chấp ngã đối với
sắc thì không khổ vì chuyện ấy
nữa” nhưng câu “oan có đầu, nợ
có chủ”. Chữ tadaṅga có nghĩa là
“ở phần đó, phương diện đó”.
Thanh lương đôi khi được hiểu là
niết bàn hay trạng thái tịch
tịnh phiền não khổ đau.
Co đường thoát khổ ở đây khởi sự
từ nhận thức rõ bản chất vô
thường, biến đổi, hoại diệt của
sắc, thọ, tưởng, hành , thức nên
từ bỏ chấp ngã. Do từ bỏ chấp
ngã nên “những sầu muộn, bi
thảm, khổ sở, lo lắng, than khóc
được buông xả; do buông xả vị ấy
không giao động; do không giao
động vị ấy sống an lạc; do an
lạc vị ấy thể nhập trạng thái
thanh lương trên phương diện
ấy”. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |