|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 15 tháng 04, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- NHƯ LÝ TÁC Ý-
Đây là một đề tài lớn và quan trọng trong Phật học. Bài viết
nầy chia thành bốn phần cho lớp học:
a.
Định nghĩa thuật ngữ yoniso manasikāra
b.
Yoniso manasikāra
và nếp sống hiền thiện
c.
Yoniso manasikāra và sự huân tu tuệ quán
d.
Ba vai trò quan trọng của yoniso
mamasikāra
………………….
C. NHƯ LÝ TÁC Ý VÀ HUÂN TU TUỆ QUÁN
Sự tích tập như lý tác ý để có được
nếp sống hiền thiện chỉ có ảnh hưởng
tạo nên đời sống tốt đẹp ở mức độ
bình thường như trong gia đình hoặc
ngoài xã hội. Một người muốn tiến xa
hơn trong sự tu tập cần sử dụng như
lý tác ý để làm điểm tựa huân tu
giới, định, tuệ ở trình độ cao hơn
mà các bản dịch chữ Hán dịch là tăng
thượng giới, tăng thượng tâm, tăng
thượng tuệ.
a.
Huân tu tăng thượng giới
(adhisīla-sikkhā) bao gồm chánh ngữ,
chánh nghiệp, và chánh mạng. Ở đây
ngôn ngữ, hành động, và sự nuôi mạng
phải đạt đến trình độ bất hại hoàn
toàn. Điều nầy thường y cứ trên giới
bổn của người xuất gia. Người cư sĩ
cũng có thể thực hành nhưng rất hiếm
hoi và khó khăn vì tự thân mưu sinh.
b.
Huân tu tăng thượng tâm
(adhicitta-sikkhā) bao gồm chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ba
pháp nầy chỉ thật sự được huân tu
đối với người tu tập thiền chỉ và
quán. Nói cách khác là tích cực phát
huy niệm và định.
c.
Huân tu tăng thượng tuệ
(adhipaññā-sikkhā)
là khả năng nhìn các pháp đúng bản
chất tự nhiên. Tự tánh thế nào thì
nhìn như vậy. Và cũng có khả năng
nhìn xuyên thấu sự liên hệ giữa
nguyên nhân và hệ quả đối với những
gì xẩy ra nơí thân và tâm.
Cả ba sự tu tập trên được y cứ trên
hai nguồn lực: một là sự hướng dẫn
từ người khác kể cả kinh điển; hai
là như lý tác ý.
Vai trò quan trọng của như lý tác ý
được Đức Phật dạy trong rất nhiều
trường hợp. Đây là một trích đoạn:
“Ta không thấy một pháp nào khác
khiên cho thiện pháp chưa sanh được
sanh và bất thiện pháp đã sanh bị
đoạn tân như là như lý tác ý “ (Tăng
Chi I, 13.)
Điều nầy được nêu chi tiết hơn trong
một đoạn kinh khác khi Đức Phật dạy:
Với như lý tác ý, những triền cái là
tham dục, sân độc, hôn thuỵ, trạo
hối, nghi hoặc chưa sanh không sanh
khởi; nếu đã sanh sẽ bị đoạn diệt.
Do như lý tác ý niệm giác chi, trạch
pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác
chi, tịnh giác chi, xả giác chi chưa
có được thành tựu. (Tương Ứng Bộ V,
85)
Đức Phật dạy về sự giao động của tâm
ý trong sự mô tả vĩ mô: Khi tâm tiếp
xúc cảnh (phassa) khiến cảm thọ
(vedanā) sanh khởi; kích động sự
nhận thức do kinh nghiệm tích lũy
hay tưởng (saññā) để rồi miên man
với những suy tự hay tầm (vitakka)
(Tương Ưng Bộ II, 21). Đây là hiện
tượng giao động của tâm thức. Sự
giao động tạo nên bất an. Nhưng vì
tập tánh nhiều đời và thiếu tu tập
nên chúng sanh luôn sống với tâm
trạng như vậy.
Nếu nói về diễn trình nầy qua giáo
lý duyên khởi thì một đoạn khác
trong Tương Ưng Bô II,30: Xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái tạo nên khổ
đau. Có thể thí dụ một người thấy
người khác có những cái mình không
có nên hoá ra buồn khổ và khao khát
rồi tạo nên những áp lực trong cuộc
sống.
Khi hành giả tu tập, tiến trình trên
được ghi nhận như sau: Tâm tiếp xúc
với cảnh tạo nên cảm thọ; như lý tác
ý đối với cảm thọ tạo nên sự hiểu
biết sáng suốt; với trí tuệ không
tạo nên những đau khổ thường có
(Tương Ưng Bộ V. 89). Tiến trình nầy
rất thường tìm thấy trong sự tu tập
khi hành giả
có khả năng hoá giải những
chướng duyên, nghịch pháp như thời
tiết nóng lạnh, lời khen tiếng chê.
Với cái nhìn sáng suốt thì an nhiên
thấy rằng tất cả chỉ là bản chất tự
nhiên có sanh có diệt, không lấy đó
là bi luỵ.
(Còn tiếp) Tỳ kheo Giác Đẳng biên soạn. |