|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 16 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Do không thấy được năm uẩn, hay
tất cả pháp hữu vi, là luôn biến
đổi, khó như ý, không nằm trong
chủ quyền nên chúng sanh nuôi
dưỡng ái chấp, mạn chấp, và kiến
chấp đối với thực tại. Vấn đề
không nằm yên ở đó. Chính không
thấy được chân tướng thực tại
nên suy diễn và chấp thủ sai lạc
về quá khứ ngoài tầm nhìn. Cũng
từ cái nhìn sai về quá khứ tạo
thành kiến chấp sai lạc ở tương
lai. Một người thấu suốt thực
tại sẽ không có những nghi hoặc
hay giả thuyết về những gì thuộc
quá khứ và tương lai vốn không
gì khác biệt bởi quá khứ từng là
hiện tại và hiện tại sẽ là quá
khứ. Vị lai cũng không khác
biệt. Đây chính thật là điểm
“nhất như”
Sāvatthinidānaṃ.
“Rūpaṃ, bhikkhave, aniccaṃ.
Yadaniccaṃ taṃ dukkhaṃ; yaṃ
dukkhaṃ tadanattā; yadanattā taṃ
‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ.
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
Này chư Tỳ khưu, sắc là vô
thường. Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô
ngã, cần phải như thật quán với
chánh trí như vầy: “Cái này
không phải của ta; cái này không
phải là ta; cái này không phải
tự ngã của ta”.
Vedanā aniccā …
viññāṇaṃ aniccaṃ. Yadaniccaṃ taṃ
dukkhaṃ; yaṃ dukkhaṃ tadanattā;
yadanattā taṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
Thọ là vô thường
… Này chư Tỳ khưu,
thức là vô thường. Cái gì vô
thường là khổ. Cái gì khổ là vô
ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như
thật quán với chánh trí như vầy:
“Cái này không phải của ta; cái
này không phải là ta; cái này
không phải tự ngã của ta”.
Evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya passato
pubbantānudiṭṭhiyo na honti.
Pubbantānudiṭṭhīnaṃ asati,
aparantānudiṭṭhiyo na honti.
Aparantānudiṭṭhīnaṃ asati,
thāmaso parāmāso na hoti.
Thāmase parāmāse asati rūpasmiṃ
…vedanāya … saññāya … saṅkhāresu
… viññāṇasmiṃ cittaṃ virajjati
vimuccati anupādāya āsavehi.
Vimuttattā ṭhitaṃ. Ṭhitattā
santusitaṃ. Santusitattā na
paritassati. Aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti.
Do quán đúng theo thực tánh với
chánh trí như vậy, vị ấy không
có các tư kiến về quá khứ.
Do không có các tư kiến về quá
khứ nên không có các tư kiến về
tương lai. Do không có các tư
kiến về tương lai, vị ấy không
cố chấp. Do không có cố chấp đối
với sắc … đối với thọ … đối với
tưởng … đối với các hành … đối
với thức, vị ấy ly tham và giải
thoát các lậu hoặc do không chấp
thủ. Do giải thoát, vị ấy an
trụ.
Do an trụ, vị ấy
toại nguyện. Do toại nguyện, vị
ấy không hy cầu.
Do không hy cầu,
vị ấy tự mình chứng niết bàn.
Vị
ấy biết: ” Sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, những việc cần
làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa”.
Chú Thích
Phần đầu của bài kinh nầy, giống
như bài kinh trước, Phật dạy về
quán chiếu năm uẩn sanh diệt
thấy rõ vô thường. Từ đó nhận ra
bản chất khổ đau và vô ngã.
Câu “Do quán đúng theo thực tánh
với chánh trí như vậy, vị ấy
không có các tư kiến về quá khứ
(evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya passato
pubbantānudiṭṭhiyo na honti) có
nghĩa là một khi hành giả thấy
rõ bản chất vô thường, khổ não,
vô ngã của năm uẩn thì không còn
có những kiếp chấp sai lạc về
quá khứ. Điều nầy dẫn tới “Do
không có các tư kiến về quá khứ
nên không có các tư kiến về
tương lai (pubbantānudiṭṭhīnaṃ
asati, aparantānudiṭṭhiyo na
honti) là tác động liên hoàn.
Chấp kiến quá khứ (pubbāntānuditthiyo) và chấp kiến tương lai
(aparāntānuditthiyo) vốn là
những kiếp chấp sâu nặng được đề
cập trong Kinh Phạm Võng
(Brahmajāla Sutta DN No. 1) khi
Đức Phật dạy về 62 tà kiến.
Theo Sớ Giải thì cụm từ thāmasā parāmāso bao gồm cả hai kiến
giải sai lạc
(ditthithāmaso
) và chấp thủ kiến giải sai lạc
(ditthiparāmāso). Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |