|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 23 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Do tập tính, người đời thường
sống với thái độ so đo giữa bản
thân và người khác. Đối với Phật
Pháp, dù tự tôn, tự thị, tự ti
đều là “mạn” một thứ phiền não
do chấp sai đối với bản chất vô
thường, khổ não, vô ngã của năm
uẩn. Nếu mạn chấp chỉ là biểu
hiện của sự thiếu hiểu biết về
sự thật thì khả năng nhận thức
năm uẩn đều là vô thường, khổ
não, vô ngã dẫn đến sự buông xả
và an tịnh thật sự của nội tâm.
Evaṃ me sutaṃ—ekaṃ samayaṃ
bhagavā rājagahe viharati
veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho soṇo gahapatiputto yena
bhagavā tenupasaṅkami …pe…
ekamantaṃ nisinnaṃ kho soṇaṃ
gahapatiputtaṃ bhagavā
etadavoca:
Tôi được nghe
như vầy.
Một thuở Đức Thế
Tôn ngự ở Rājagaha (Vương xá),
tại Veḷuvana (Trúc Lâm), trong
khu vực Kalandakanivāpe (chỗ cho
sóc ăn).
Bấy giờ Soṇa,
con trai một gia chủ, đi đến Đức
Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống
một bên. Đức Thế Tôn nói với
Soṇa:
“Ye hi keci, soṇa, samaṇā vā
brāhmaṇā vā aniccena rūpena
dukkhena vipariṇāmadhammena
‘seyyohamasmī’ti vā
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’ti vā
samanupassanti; ‘hīnohamasmī’ti
vā samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa adassanā? Aniccāya
vedanāya dukkhāya
vipariṇāmadhammāya
‘seyyohamasmī’ti vā
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’ti vā
samanupassanti; ‘hīnohamasmī’ti
vā samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa adassanā? Aniccāya
saññāya … aniccehi saṅkhārehi
dukkhehi vipariṇāmadhammehi
‘seyyohamasmī’ti vā
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’ti vā
samanupassanti; ‘hīnohamasmī’ti
vā samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa adassanā? Aniccena
viññāṇena dukkhena
vipariṇāmadhammena
‘seyyohamasmī’ti vā
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’ti vā
samanupassanti; ‘hīnohamasmī’ti
vā samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa adassanā?
—Này Soṇa, những
sa môn hay bà la môn nào dựa
trên sắc
- vốn vô thường, khổ, biến hoại
-
cho
là: “Ta tốt hơn (người)”, hay:
“Ta bằng (người)”, hoặc: “Ta kém
hơn (người)”; đâu gì khác mà chỉ
là chẳng hiểu biết chân lý.
… dựa trên thọ - vốn vô thường,
khổ, biến hoại - …
Ye
ca kho keci, soṇa, samaṇā vā
brāhmaṇā vā aniccena rūpena
dukkhena vipariṇāmadhammena
‘seyyohamasmī’tipi na
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’tipi na
samanupassanti;
‘hīnohamasmī’tipi na
samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa dassanā? Aniccāya
vedanāya … aniccāya saññāya …
aniccehi saṅkhārehi … aniccena
viññāṇena dukkhena
vipariṇāmadhammena
‘seyyohamasmī’tipi na
samanupassanti;
‘sadisohamasmī’tipi na
samanupassanti;
‘hīnohamasmī’tipi na
samanupassanti; kimaññatra
yathābhūtassa dassanā?
—Này Soṇa, những
sa môn hay bà la môn nào không
dựa trên sắc - vốn vô thường,
khổ, biến hoại -
cho
là: “Ta tốt hơn (người)”, hay:
“Ta bằng (người)”, hoặc: “Ta kém
hơn (người)”; không gì khác mà
chỉ là chẳng hiểu biết chân lý.
… không dựa trên
thọ - vốn vô thường, khổ, biến
hoại - …
Taṃ kiṃ maññasi, soṇa, rūpaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
Này Soṇa, ngươi nghĩ thế nào,
sắc là thường hay vô thường?
“Vedanā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” … “saññā …
saṅkhārā … viññāṇaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti?
“Aniccaṃ, bhante”.
“Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ
sukhaṃ vā”ti?
“Dukkhaṃ, bhante”.
“Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ: ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṃ, bhante”. ---Tưởng là thường hay vô thường? … ----Hành là thường hay vô thường? … ----Thức là thường hay vô thường? —Vô thường, bạch Thế Tôn. —Cái gì vô thường là khổ hay lạc? —Là khổ, bạch Thế Tôn. —Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý hay chăng nếu xem: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không,
bạch Thế Tôn.
“Tasmātiha, soṇa, yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā
oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā,
sabbaṃ rūpaṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
—Này Soṇa, cho nên phàm sắc gì
dù quá khứ, vị lai, hiện tại,
nội giới hay ngoại giới, thô hay
tế, hạ liệt hay thù thắng, xa
hay gần; tất cả sắc cần phải
quán với chánh trí: “Cái này
không phải của ta, cái này không
phải là ta, cái này không phải
tự ngã của ta”.
Yā
kāci vedanā … yā kāci saññā … ye
keci saṅkhārā … yaṃ kiñci
viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā
oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā,
sabbaṃ viññāṇaṃ ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
phàm thọ gì … phàm tưởng gì …
phàm hành gì …
Phàm thức gì
dù quá khứ, vị lai, hiện tại, nội
giới hay ngoại giới, thô hay tế,
hạ liệt hay thù thắng, xa hay
gần; tất cả sắc cần phải quán
với chánh trí: “Cái này không
phải của ta, cái này không phải
là ta, cái này không phải tự ngã
của ta”
Evaṃ passaṃ, soṇa, sutavā
ariyasāvako rūpasmimpi
nibbindati, vedanāyapi
nibbindati, saññāyapi
nibbindati, saṅkhāresupi
nibbindati, viññāṇasmimpi
nibbindati. Nibbindaṃ virajjati;
virāgā vimuccati. Vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti.
Này Soṇa, do thấy vậy vị Thánh
đệ tử có học hiểu yếm ly đối với
sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly
đối với tưởng, yếm ly đối với
các hành, yếm ly đối với thức.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly
tham, vị ấy giải thoát. Trong sự
giải thoát, khởi lên chánh trí:
“Đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ:
“Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa”.
Chú Thích
Trong Sớ giải nói rất ít về
Soṇa.
Gọi là “con một gia chủ -
gahapatiputta – như vậy thanh
niên cư sĩ còn trẻ. Trong Tam
Tạng chỉ có hai bài kinh đề cập
tới người nầy. Cũng không thấy
nói về những quả chứng ngộ. Tuy
vậy với những gì Đức Phật dạy
cho Soṇa trong hai bài kinh nầy
cho thấy trình độ căn cơ người
nầy khá cao.
Ba ý niệm: “Ta tốt hơn (người)”,
hay: “Ta bằng (người)”, hoặc:
“Ta kém hơn (người)” đều thuộc
về “mạn”.
Câu “kimaññatra
yathābhūtassa adassanā? -
đâu gì khác mà chỉ là chẳng hiểu
biết chân lý?”. Là cách nói hàm
ý hể có sự so đo nhân ngã, bỉ
thử thì đều là chấp sai, đi
ngược lại với “như thật tánh
-yathābhūta” hay chân lý.
Nội dung bài
kinh nầy. cũng như nhiều bài
kinh trong phẩm Khandha, nói về
sự liên hệ tất nhiên của ba pháp
vô thường, khổ, vô ngã. Đồng
thời của nói về sự liên đới của
ái chấp, mạn chấp, và kiến chấp. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |