|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 24 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Trong lời Phật dạy, một người tu
không thể không hiểu biết về bản
thân. Bản thân có nghĩa là năm
uẩn. Hiểu biết là nhận thức rõ
qua cả bốn phương diện: bản
chất, nhân sanh khởi, sự vượt
thoát, và con đường dẫn đến sự
vượt thoát. Cứu cánh của đời tu
hành chính là sự chứng ngộ và an
trú chánh trí giải thoát. Đức
Phật cũng khẳng định là chỉ có
những ai hiểu biết năm uẩn qua
tứ đế thì Ngài mới gọi đó là
những vị chân tu giữa những
ngưòi đi tu.
Evaṃ me sutaṃ—ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe.
Atha kho soṇo gahapatiputto yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinnaṃ kho soṇaṃ
gahapatiputtaṃ bhagavā
etadavoca:
Tôi được nghe
như vầy.
Một thuở Đức Thế
Tôn ngự ở Rājagaha (Vương xá),
tại Veḷuvana (Trúc Lâm), trong
khu vực Kalandakanivāpe (chỗ cho
sóc ăn).
Bấy giờ Soṇa,
con trai một gia chủ, đi đến Đức
Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống
một bên. Đức Thế Tôn nói với
Soṇa:
“Ye hi keci, soṇa, samaṇā vā
brāhmaṇā vā rūpaṃ nappajānanti,
rūpasamudayaṃ nappajānanti,
rūpanirodhaṃ nappajānanti,
rūpanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
nappajānanti; vedanaṃ
nappajānanti, vedanāsamudayaṃ
nappajānanti, vedanānirodhaṃ
nappajānanti,
vedanānirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
nappajānanti; saññaṃ
nappajānanti …pe… saṅkhāre
nappajānanti, saṅkhārasamudayaṃ
nappajānanti, saṅkhāranirodhaṃ
nappajānanti,
saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
nappajānanti; viññāṇaṃ
nappajānanti, viññāṇasamudayaṃ
nappajānanti, viññāṇanirodhaṃ
nappajānanti,
viññāṇanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
nappajānanti. Na me te, soṇa,
samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu
vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā
brāhmaṇasammatā, na ca pana te
āyasmanto sāmaññatthaṃ vā
brahmaññatthaṃ vā diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharanti.
—Này Soṇa,
những sa
môn hay bà la môn nào không
hiểu biết sắc, không hiểu biết
sự tập khởi của sắc,
không hiểu biết sự đọan
diệt của sắc,
không hiểu biết con đường
đưa đến đoạn diệt sắc;
không hiểu biết thọ … ;
không hiểu biết
thức, không hiểu biết sự tập
khởi của thức,
không hiểu biết sự đọan
diệt của thức,
không hiểu biết con đường
đưa đến đoạn diệt thức, Ta không
xem những sa môn hay bà la môn
ấy thật sự là những sa môn hay
bà la môn giữa những sa môn hay
bà la môn; và hơn nữa vị ấy
trong không thể chứng đạt và an
trú sự giác ngộ ngay trong đời
hiện tại – là cứu cánh của sa
môn hạnh hay bà la môn hạnh.
Ye
ca kho keci, soṇa, samaṇā vā
brāhmaṇā vā rūpaṃ pajānanti,
rūpasamudayaṃ pajānanti,
rūpanirodhaṃ pajānanti,
rūpanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
pajānanti; vedanaṃ pajānanti
…pe… saññaṃ pajānanti … saṅkhāre
pajānanti … viññāṇaṃ pajānanti,
viññāṇasamudayaṃ pajānanti,
viññāṇanirodhaṃ pajānanti,
viññāṇanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ
pajānanti. Te ca kho me, soṇa,
samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu
ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca
brāhmaṇasammatā, te ca
panāyasmanto sāmaññatthañca
brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharantī”ti.
Nhưng này Soṇa,
những sa môn hay bà la môn nào
hiểu biết sắc, hiểu biết sự tập
khởi của sắc,
hiểu biết sự đọan diệt
của sắc,
hiểu biết con đường đưa
đến đoạn diệt sắc;
hiểu biết thọ …
;
Chú Thích
Nội dung bài kinh nầy áp dụng hệ
luận tứ đế đối với năm uẩn. Đây
là hệ luận bao gồm vấn đề,
nguyên nhân, giải pháp, phương
thức đạt được giải pháp. Cách áp
dụng nầy rất thường được dùng
đối với những đề tài khác như
thập nhị duyên khởi, tứ thực …
Khi Đức Phật sử dụng cụm từ
“những sa môn hay bà la môn
(samaṇā vā brāhmaṇā vā)” hàm ý
là những tu sĩ. Trong văn hoá Ấn
những tu sĩ bà la môn hay phạm
chí được hiểu là những vị
nghiêng về tri thức nghiên cứu
đạo lý trong lúc sa môn chỉ cho
những vị nghiêng về hành trì.
( Bài kinh nầy
và bài kinh trước có cùng bản sớ
giải). Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |