BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Năm, 25 tháng 04, 2024

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

XX. Phẩm Đạo Lộ (Maggavagga)

Gồm 17 bài kệ với 12 duyên sự

-Kệ số 7 (dhp 279)

Chánh văn:

(dhp 278)
7. Sabbe dhammā anattā’ ti
yadā paññāya passati
atha nibbindati dukkhe
esa maggo visuddhiyā.

Chuyển văn:

6. Yadā sabbe dhammā anattā iti paññāya passati, atha dukkhe nibbandati eso visuddhiyā maggo.

Thích văn:

Dhammā [chủ cách, số nhiều, nam tính, danh từ dhamma] các pháp.
Anattā’ ti [hợp âm anattā iti].
Anattā [chủ cách, số nhiều, nam tính, tính từ anatta (na + atta)] vô ngã, không có bản ngã, không phải thực ngã.

Việt văn:

(pc 279)

7. “Tất cả pháp vô ngã”
khi với trí thấy vậy
sẽ yểm ly sự khổ
đó là đạo thanh tịnh.

7. Khi nào tỏ bằng trí tuệ rằng: “Tất cả pháp là vô ngã”, lúc ấy sẽ yểm ly khổ đau, đó là con đường dẫn đến thanh tịnh.

Duyên sự:

Bài kệ nầy đức Phật cũng thuyết ở Sāvatthi khi Ngài trú ở Jetavanavihāra, nhân vì 500 vị tỳ kheo kiếp xưa từng tu tập quán vô ngã.

Năm trăm tỳ kheo ấy hành thiền trong rừng tinh tấn vẫn không chứng đắc đạo quả. Chư vị nghĩ rằng phải về bái kiến đức Phật để Ngài dạy cho đề mục thích hợp.

Các vị tỳ kheo ấy trở về Sāvatthi, vào Jetavana đảnh lễ bậc Đạo sư và trình bày lý do. Đức Thế Tôn quán xét căn duyên của 500 vị tỳ kheo nầy sẽ chứng A la hán và Ngài cũng quán xét khuynh hướng của các vị tỳ kheo ấy, biết trong thời Đức Phật Kassapa họ đã chuyên tâm tu tập quán vô ngã tướng. Do đó, đức Phật dạy: “Này chư tỳ kheo, ngũ uẩn là vô ngã bởi ý nghĩa là không chủ quyền kiểm soát được”. Nói xong, đức Phật thuyết lên bài kệ: Sabbe dhammā anattā’ ti…v.v…esa maggo visuddhiyā’ ti.

Dứt kệ ngôn, tất cả 500 vị tỳ kheo ấy đều trú vào quả vị A la hán.

Lý giải:

Sabbe saṅkhārā aniccā’ ti, tất cả hành là vô thường (dhp 277). Sabbe saṅkhārā dukkhā’ ti, tất cả hành là khổ não (dhp 278). Sabbe dhammā anattā’ ti, tất cả pháp là vô ngã (dhp 279). Vì sao nói đến vô thường, khổ não thì đức Phật nói hành hay hữu vi (saṅkhārā), còn khi nói đến vô ngã thì đức Phật dùng từ pháp (dhammā) mà không dùng từ hữu vi (saṅkhārā)?

Ở đây, danh từ dhammā chỉ cho cả pháp hữu vi (saṅkhārādhamma hay saṅkhatadhamma) và pháp vô vi (asaṅkhāradhamma hay asaṅkhatadhamma).

Pháp hữu vi, tức ngũ uẩn (pañcakhandha), có hiện tượng sanh diệt nên gọi là vô thường; Pháp hữu vi, tức ngũ uẩn, có hiện tượng bị bức xúc nên gọi là khổ não; Pháp vô vi, tức níp bàn (nibbāna) không có hiện tượng sanh diệt, không có hiện tượng bị bức xúc, nên không gọi là vô thường (anicca) và khổ não (dukkha).

Nhưng kẻ vô văn phàm phu chấp sai ngũ uẩn là ngã, ngã là ngũ uẩn, trong ngũ uẩn có ngã, trong ngã có ngũ uẩn, và kẻ phàm phu cũng chấp sai níp bàn là ngã, ngã là níp bàn, trong níp bàn có ngã, trong ngã có níp bàn…Chính vì thế, đức Phật thuyết phá kiến chấp ấy: ngủ uẩn (pháp hữu vi) là vô ngã, níp bàn (pháp vô vi) cũng là vô ngã. Nên trong bài kệ dhp 279, Ngài mới thuyết rằng: Sabbe dhammā anatta’ ti_Tất cả pháp là vô ngã.

Vô ngã (anatta) có 4 ý nghĩa:

(1) Trống rỗng (suññato)
(2) không sở hữu chủ (assāmikato)
(3) không có quyền chi phối (avasavattito)
(4) Trái nghĩa với bản ngã (attapaṭikkhepato).

Hành giả quán thấy các pháp hữu vi và vô vi là pháp thực tính, có tướng trạng, nhưng không theo sự sắp đặt, không có thực ngã, tất cả là vô ngã thì hành giả sẽ nhàm chán đối với thân ngũ uẩn nầy, do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Sự giải thoát chứng đạt nhờ hành giả tuỳ quán vô ngã, được gọi là tánh không giải thoát (Suññatāvimokkha).

Đó là con đường đưa đến thanh tịnh (eso visuddhiyā maggo), nghĩa là tuỳ quán vô ngã, cũng là đạo lộ để chứng níp bàn.

 Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

-ooOoo-