|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 27 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Sự nhận thức xác thực về vô
thường nếu đi với niệm và định
có hiệu ứng quan trọng đối với
người tập. Khi thấy với sự tỉnh
giác và thấy liên tục (tức là
với định và niệm) dần dà khiến
hành giả không còn ảo tưởng bám
chấp vào những đối tượng vốn là
thị dục. Khi tâm không vướng mắc
thì đạt tới trạng thái rổng
rang. Những thuật ngữ quán vô
thường, chánh kiến, ly hỷ, ly
tham ở đây không mang ý nghĩa xa
rộng mà là những tác động tâm lý
đậm đặc, mạnh mẽ, và xác quyết
đối với một hành giả.
Sāvatthinidānaṃ.
“Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu rūpaṃ aniccanti passati. Sāssa
hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṃ
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
—Này chư Tỳ
khưu, một người tu tập thấy sắc
vô thường đúng là vô thường, đó
là chánh kiến của vị ấy. Thấy
đúng như vậy, vị ấy nhàm chán.
Sự vui thích đoạn diệt nên ham
muốn được đoạn diệt. Do ham muốn
đoạn diệt nên vui thích đoạn
diệt. Do vui thích và ham muốn
đoạn diệt, tâm được giải thoát.
Vị ấy được gọi là vị đã khéo
giải thoát.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu vedanaṃ aniccanti passati. Sāssa
hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṃ
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu saññaṃ aniccanti passati …pe…
anicceyeva bhikkhave, bhikkhu saṅkhāre aniccāti passati. Sāssa
hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṃ
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu viññāṇaṃ aniccanti passati. Sāssa
hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṃ
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccatī”ti.
… khi một người
tu tập thấy thọ vô thường …
Này chư Tỳ khưu,
một người tu tập thấy thức vô
thường đúng là vô thường, đó là
chánh kiến của vị ấy. Thấy đúng
như vậy, vị ấy nhàm chán. Sự vui
thích đoạn diệt nên ham muốn
được đoạn diệt. Do ham muốn đoạn
diệt nên vui thích đoạn diệt. Do
vui thích và ham muốn đoạn diệt,
tâm được giải thoát. Vị ấy được
gọi là vị đã khéo giải thoát.
Chú Thích
Chữ bhikkhu thường được âm là tỳ
khưu trong nhiều trường hợp chỉ
cho người xuất gia đã thọ đại
giới. Nhưng cũng có một số
trường hợp chỉ cho hành giả. Ở
đây chọn chữ “người tu tập” để
mang ý nghĩa rộng hơn.
Câu “Aniccaññeva, bhikkhave,
bhikkhu rūpaṃ aniccanti passati
– Này chư Tỳ khưu, một người tu
tập thấy sắc vô thường đúng là
vô thường” nên hiểu trong văn
phong có điểm nhấn về sự xác
định mạnh của cái nhìn.
Chữ
sammādiṭṭhi
– chánh kiến ở đây gói gọn trong
ý nghĩa “cái nhìn xác thực” khi
quán chiếu tu tập.
Chữ nibbindati - thường được
dịch là nhàm chán hay yểm ly ở
đây mang ý nghĩa tích cực như
một người nhận ra được có căn
nhà quá lớn nên vui hưởng thì ít
mà mệt nhọc chăm sóc thì nhiều
nên không tha thiết có căn nhà.
Không nên hiểu nhàm chán theo
tiêu cực.
Chữ nandi - thường được dịch là
hỷ - ở đây chỉ cho tâm trạng yêu
thích, ưa thích, sung sướng như
một người thích chơi đá gà khi
thấy những con gà chọi khoẻ
khoắn sanh tâm thích thú.
Chữ rāga - chỉ cho dục vọng, hay
sự ham muốn có cường độ mạnh hơn
là sự thích thú bình thường.
Chữ khaya – là đoạn tận, đoạn
diệt. Bản dịch chọn chữ “đoạn
diệt” vì có thể là sự dập tắt sự
ưa thích ham muốn đối với riêng
cảnh nào đó chứ không hẳn đoạn
tận hoàn toàn như sự tận diệt
kiết sử khi đắc chứng đạo quả.
Bản Hậu Sớ Giải nêu lên cả hai
trường hợp chế ngự nhất thời và
đoạn kiết sử (hay đắc hứng đạo
quả) với tâm giải thoát khỏi
ràng buộc của hỷ tham. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |