|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 29 tháng 04, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- CHÁNH KIẾN VÀ CHÁNH TÍN-
Mặc dù trong thời bình
minh của Phật giáo, khi Đức Phật tại thế,
người Phật tử được hướng dẫn chú trọng huân
tu chánh kiến và chánh tín trong đời sống
hằng ngày nhưng theo thời gian dài tồn tại
Đạo Phật đã trở thành một tôn giáo với nhiều
pha tạp tín ngưỡng dân gian. Điều nầy ảnh
hướng lớn đối với chánh kiến và chánh tín
của người con Phật.
I-ĐỨC TIN
LÀ HẠT GIỐNG Ví như thảo mộc có nhiều
đặc tính bắt nguồn từ hạt giống, đời sống
nói chung và sự tập nói riêng khởi sự ở niềm
tin. Đây là lý do có Phật ngôn: Đức tin là
hạt giống (Tương Ưng I). Nếu niềm tin sai
lạc thì cho dù bề ngoài mang vẻ rất sùng đạo
nhưng bản chất vẫn bị hỏng vì thiếu niềm tin
chân chánh. Thí dụ trường hợp một người làm
thiện sự quy mô nhưng vì mê tín có tác dụng
rất khác đối với người làm việc tương đối
nhỏ, như cúng dường một vị sư đi trì bình,
với niềm tin nhân quả. Những thiện sự không
đi với đức tin chân chánh thì dừng lại khi
làm xong chứ không lớn mạnh theo thời gian.
Đó là lý do tại sao có những người sau khi
làm một việc phước thiện nào đó rồi không có
gì ảnh hưởng lợi lạc sau đó.
Niềm tin ở
Phật Tin ở Phật là niềm tin ở
bậc Đạo Sư là đấng đại giác. Ngài là bậc
hướng dẫn tối thượng không ai khác có thể
hơn được (natthi me saranaṃ aññaṃ). Sự xuất
hiện của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thật
hiếm quý, và do vậy, luôn cảm nhận sự hữu
phúc được sống trong thời kỳ giáo pháp của
một vị toàn giác. Một người tin Phật bằng
chánh tín luôn tìm sự soi sáng từ Đức Phật
qua mọi cân nhắc trong mọi suy tư về cuộc
sống và không để bản thân bị lôi cuốn theo
những mê tín tà mị.
Người có niềm tin Phật mạnh mẻ luôn
nương tựa Phật lúc vui cũng như lúc buồn,
trong đời sống hằng ngày cũng như trong giây
phút lâm chung.
Niềm tin ở
Pháp Pháp là lời Phật dạy. Là
sự tuyên thuyết của bậc giác ngộ. Tin Pháp
của là tin vào sự thật. Những gì mê tín, dối
gạt, phương tiện lôi kéo nhất thời đều đi
ngược với chánh pháp. Người thật sự tin Pháp
không vì khuyết điểm cá nhân mà bóp méo Phật
Pháp, cũng không vì kiến văn hạn hẹp mà cố
tình giảng giải bừa bãi lời Phật dạy. Tin ở
Pháp là tin ở sự thấy biết chơn chánh đối
với bản chất thật của cuộc sống như cái gì
vô thường chấp nhận là vô thường, khổ não
chấp nhận là khổ não, vô ngã chấp nhận là vô
ngã.
Niềm tin ở
Tăng Tăng là những đệ tử Phật
thật sự đi theo con đường Phật dạy một cách
chân thực. Nói một cách chắc chắn những bậc
thánh thuộc tứ song bát bối. Các ngài đã
bước vào ngưỡng cửa giác ngộ hay đã hoàn
toàn giải thoát. Niềm tin ở Tăng trước nhất
là có lòng tin ở đời có những vị tu hành
chứng ngộ cứu cánh. Thứ đến là niềm tin ở
Tăng thể đại chúng vượt khỏi hình ảnh cá
nhân. Sau cùng chính Tăng chúng mới là phước
điền vô thượng ở đời. Chư tăng theo quy ước
bao gồm cả thánh và phàm tăng. Chư vị phàm
tăng có giá trị tương đối nhưng cũng mang
một số đặc điểm của thánh chúng đệ tử Phật.
Niềm tin ở
nghiệp báo Tin nghiệp báo là tin
vào luật nhân quả với ba điểm. Một là tâm
tạo tác thanh tịnh hay phiền não
tạo hiệu ứng hoàn toàn khác nhau. Hai
là hành động vô hại, lợi lạc cho bản thân và
tha nhân là thiện nghiệp, ngược lại là bất
thiện nghiệp. Ba là tất của chúng sanh là kẻ
thừa tự nghiệp, nói cách khác, do nghiệp đã
tạo khác biệt nên cuộc sống hiện tại cũng
khác biệt. Khi có niềm tin mạnh mẽ ở nghiệp
báo, sẽ sợ ác nghiệp và hoan hỷ với thiện
nghiệp. Chính sự hiểu biết rõ về định lý
nghiệp báo cũng tạo nên tâm nhàm chánh luân
hồi sanh tử cũng như có thái độ điềm đạm hơn
đối với những chuyện bất như ý xẩy ra trong
cuộc sống.
II-CHÁNH
KIẾN LÀ ĐỊNH HƯỚNG Một hành trình tốt đẹp
luôn cần định hướng chuẩn xác. Định hướng đó
là chánh kiến. Không có chánh kiến thì ngược
xuôi trong những nẻo đường lạc lối phí mất
thì giờ. Không có chánh kiến thì hành động
hiện tại không tương ứng với mục đích hướng
tới. Không có chánh kiến thì không làm những
lựa chọn đúng đắn trong trường hợp cần quyết
địn.
Cái nhìn
theo hệ luận tứ đế Hệ luận tứ đế bao gồm:
vấn đề, nguyên nhân, giải pháp, và phương
cách đạt được giải pháp. Nói tổng quát thì
là giáo lý khổ, tập, diệt, đạo. Nói theo
cách ứng dụng thì phải hiểu căn bệnh mới trị
được bệnh; muốn trị bệnh cần hiểu rõ nguyên
nhân gây bệnh; muốn bệnh thuyên giảm thật sự
thì cận phải nắm rõ ở mức độ nào được xem là
hết bệnh; tất nhiên phải có phương pháp trị
liệu hữu hiểu thì cái biết mới hoàn chỉnh.
Chìa khoá của pháp học, pháp hành, và pháp
thành đều y cứ trên tứ đế.
Thái độ
thực tiễn Hiểu biết xác thực chưa
đủ để gọi là chánh kiến mà cần có thái độ
thực tiễn. Đức Phật cho thí dụ một người bị
mũi tên bắn trúng thì điều thực tiễn nên làm
là nhỗ mũi tên và điều trị vết thương. Tất
cả những câu hỏi khác như ai bắn, tại sao
bắn, cung tên làm bằng gì …. trong lúc tánh
mạng nguy kịch đều vô nghĩa. Học Phật không
mang mục đích thoả mãn như cầu tri thức mà
là tìm ra thái độ hợp tình hợp lý đối với
nỗi khổ đau muôn thuở của kiếp nhân sinh.
Tinh thần
bất hại qua bốn pháp từ, bi, hỷ, xả Người Phật tử có chánh
kiến luôn ý thức sự quan trọng của tinh thần
bất hại đối với muôn
loại chúng sanh. Thiếu tinh thần bất
hại sẽ tạo những nghiệp ác. Thiếu tinh thần
bất hại sẽ không tu được bốn pháp từ, bi,
hỷ, xả. Thiếu tinh thần bất hại được xem như
chưa hành theo lời Phật dạy (Kinh Ví Dụ Cái
Cưa, Trung Bộ). Cả hai việc tu thập thiện
nghiệp và tránh thập ác nghiệp đều y cứ trên
tinh
thần bất hại.
Sống với
thực tại, sống trong hiện tại, sống bằng tâm
tự tại Sống với chánh niệm là
chìa khoá quan trọng để an lạc và tinh tiến
đối với người con Phật. Người có chánh kiến
theo Phật Pháp luôn thấy được giác trị quan
trọng nầy. Sống chánh niệm là sống với thực
tại, sống trong hiện tại, sống bằng tâm tự
tại. Sống với thực tại là giảm thiểu ảo
tưởng bằng cách quán sát thân tâm như niệm
hợi thở, niệm cảm thọ…với sự nắm bắt hiện
tượng sanh diệt. Sống trong hiện tại là đặt
để sự chú tâm vào những gì đang xẩy ra hoặc
vừa xẩy ra hơn là truy tìm quá khứ hay mộng
ảo tương lai. Sống bằng tâm tự tại là khả
năng chấp nhận thực tại với thái đ0ô an
nhiên, không phiền não.
Luôn ý
thức giá trị của “trung đạo” Trung đạo là không cực
đoan thái quá hay bất cập. Người có chánh
kiến luôn ý thức là bản tánh phần đông
thường quá độ. Quá thích, quá ghét, quá vui,
quá buồn, quá dính mắc, quá lãnh đạm, quá
thiên bên phải, quá thiên bên trái. Chính sự
ôn hoà, chừng mực, trung dung, phải chăng là
điều kiện cần thiết để đi tới và không tạo
nnê xáo trộn. Không người nào có chánh kiến
lại thiếu tinh thần trung đạo. Thái độ cực
đoan chỉ đáp ứng cảm xúc bản năng như hoàn
toàn đi ngược lại với sử tỉnh táo của lý
trí. Tỳ kheo Giác Đẳng biên soạn giáo trình. |