|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 30 tháng 04, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Trong phép tác xạ không phải chỉ
bắn là trúng đích mà còn phải
biết khéo nhắm mục tiêu. Đây là
một thí dụ về vai trò của như lý
tác ý đối với sự thấy biết thực
tướng sanh diệt. Sự liên đới nầy
đặc biệt quan trọng đối với
người hành thiền quán. Không có
như lý tác ý hành giả chỉ có
phản ứng và chạy theo những gì
xẩy ra ở thân và tâm (tức năm
uẩn). Biết đưa những gì xẩy ra
và tầm ngắm của chánh niệm; biết
ghi nhận những gì xẩy ra mà
không phản ứng; biết được sự
sanh và diệt của các hiện tượng
của năm uẩn trong những khoảnh
khắc ngắn ngủi. Sự trạng thế nào
ghi nhận như vậy. Không ảo
tưởng; không tưởng tượng; không
cố điều khiển. Vượt khỏi thói
quen đòi hỏi khéo léo. Nhận biết
thực tướng vô thường là kết quả
sơ khởi mà hành giả nếm trải
được.
Sāvatthinidānaṃ.
“Rūpaṃ, bhikkhave, yoniso manasi
karotha, rūpāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassatha.
Rūpaṃ, bhikkhave, bhikkhu yoniso
manasi karonto, rūpāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassanto
rūpasmiṃ nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
—Này chư Tỳ
khưu, hãy khéo tác ý đối với
sắc; hãy nhận biết thực tánh vô
thường của sắc.
Do khéo tác ý đối với
sắc; do khéo lãnh hội thực tánh
vô thường của sắc,
người
tu tập cảm nhận nhàm chán đối
với sắc. Sự vui thích đoạn diệt
nên ham muốn được đoạn diệt. Do
ham muốn đoạn diệt nên vui thích
đoạn diệt. Do vui thích và ham
muốn đoạn diệt, tâm được giải
thoát. Vị ấy được gọi là vị đã
khéo giải thoát.
Vedanaṃ, bhikkhave, yoniso
manasi karotha, vedanāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassatha.
Vedanaṃ, bhikkhave, bhikkhu
yoniso manasi karonto,
vedanāniccatañca yathābhūtaṃ
samanupassanto vedanāya
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Saññaṃ bhikkhave …
saṅkhāre, bhikkhave, yoniso
manasi karotha,
saṅkhārāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassatha.
Saṅkhāre, bhikkhave, bhikkhu
yoniso manasi karonto,
saṅkhārāniccataṃ yathābhūtaṃ
samanupassanto saṅkhāresu
nibbindati. Nandikkhayā
rāgakkhayo, rāgakkhayā
nandikkhayo. Nandirāgakkhayā
cittaṃ vimuttaṃ suvimuttanti
vuccati.
Viññāṇaṃ, bhikkhave, yoniso
manasi karotha,
viññāṇāniccatañca yathābhūtaṃ
samanupassatha. Viññāṇaṃ,
bhikkhave, bhikkhu yoniso manasi
karonto, viññāṇāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassanto
viññāṇasmiṃ nibbindati.
Nandikkhayā rāgakkhayo,
rāgakkhayā nandikkhayo.
Nandirāgakkhayā cittaṃ vimuttaṃ
suvimuttanti vuccatī”ti.
…
hãy khéo
tác ý đối với thọ
Này chư Tỳ khưu,
hãy khéo tác ý đối với thức; hãy
k nhận biết thực tánh vô thường
của thức.
Do khéo tác ý đối với
thức; do khéo lãnh hội thực tánh
vô thường của thức,
người
tu tập cảm nhận nhàm chán đối
với thức. Sự vui thích đoạn diệt
nên ham muốn được đoạn diệt. Do
ham muốn đoạn diệt nên vui thích
đoạn diệt. Do vui thích và ham
muốn đoạn diệt, tâm được giải
thoát. Vị ấy được gọi là vị đã
khéo giải thoát.
Chú Thích
Mệnh đề “yoniso manasi karotha
(hãy khéo tác ý)” và
“yathābhūtaṃ samanupassatha (hãy
lãnh hội thực tánh” được thí dụ
trong Milindapanha như người làm
ruộng một tay gom lúa và một tay
cắt lúa. Tay gom lúa đuợc ví cho
“khéo tác ý”, dao cắt lúa ví cho
trí tuệ quán tri bản chất thật
của năm uẩn.
Bài kinh nầy là lời dạy của Đức Phật cho những vị đang tu tập
thiền quán (vipassana) với sự
khéo quán sát sắc, thọ, tưởng,
hành, thức và thấy rõ được sự
tướng trạng sanh diệt bằng sự
nhận thức trực tiếp.
Đoạn sau của bài kinh nói về hiệu ứng do thấy rõ thực tướng
sanh diệt mang ý nghĩa giống như
bài kinh trước. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |