|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 02 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 392. KHI THẤY CHỈ BIẾT LÀ THẤY…- Kinh Mālunkyaputta (Mālunkyaputtasuttaṃ).
******
Phàm tâm phức tạp mà nông cạn.
Thánh trí giản dị lại thâm sâu.
Do tập tánh phiền não nhiều đời
khi tâm chúng sanh tiếp xúc với
cảnh thì khời sanh vô số điên
đảo vọng tưởng. Hành giả tu tập
thiền quán là trở về với tâm
cảnh đơn thuần: trong cái thấy
chỉ có cái thấy, trong cái nghe
chỉ có cái nghe, trong cái cảm
nhận chỉ có cái cảm nhận, trong
cái nhận biết chỉ có cái nhận
biết —không còn “chấp bởi điều
ấ, không còn chấp trong ấy, sẽ
không chấp thủ bên nầy, bên kia
hay ở giữa ”. Chính đây là sự
chấm dứt khổ đau
Kinh Văn
95. atha kho āyasmā mālukyaputto {māluṅkyaputto (sī.)} yena
bhagavā tenupasaṅkami ... pe ...
ekamantaṃ nisinno kho āyasmā
mālukyaputto bhagavantaṃ
etadavoca — “sādhu me, bhante,
bhagavā saṃkhittena dhammaṃ
desetu, yamahaṃ bhagavato
dhammaṃ sutvā eko vūpakaṭṭho
appamatto ātāpī pahitatto
vihareyyan”ti.
“ettha dāni, mālukyaputta, kiṃ dahare bhikkhū vakkhāma!
yatra hi nāma tvaṃ, bhikkhu,
jiṇṇo vuddho mahallako addhagato
vayoanuppatto saṃkhittena ovādaṃ
yācasī”ti.
“kiñcāpāhaṃ, bhante, jiṇṇo vuddho mahallako addhagato
vayoanuppatto. desetu me,
bhante, bhagavā saṃkhittena
dhammaṃ, desetu sugato
saṃkhittena dhammaṃ, appeva
nāmāhaṃ bhagavato bhāsitassa
atthaṃ ājāneyyaṃ. appeva nāmāhaṃ
bhagavato bhāsitassa dāyādo
assan”ti.
“taṃ kiṃ maññasi,
mālukyaputta, ye te
cakkhuviññeyyā rūpā adiṭṭhā
adiṭṭhapubbā, na ca passasi, na
ca te hoti passeyyanti? atthi te
tattha chando vā rāgo vā pemaṃ
vā”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“ye te sotaviññeyyā saddā assutā assutapubbā, na ca suṇāsi,
na ca te hoti suṇeyyanti? atthi
te tattha chando vā rāgo vā
pemaṃ vā”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“ye te ghānaviññeyyā
gandhā aghāyitā aghāyitapubbā,
na ca ghāyasi, na ca te hoti
ghāyeyyanti? atthi te tattha
chando vā rāgo vā pemaṃ vā”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“ye te jivhāviññeyyā rasā asāyitā asāyitapubbā, na ca
sāyasi, na ca te hoti
sāyeyyanti? atthi te tattha
chando vā rāgo vā pemaṃ vā”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“ye te kāyaviññeyyā
phoṭṭhabbā asamphuṭṭhā
asamphuṭṭhapubbā, na ca phusasi,
na ca te hoti phuseyyanti? atthi
te tattha chando vā rāgo vā
pemaṃ vā”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“ye te manoviññeyyā dhammā aviññātā aviññātapubbā, na ca
vijānāsi, na ca te hoti
vijāneyyanti? atthi te tattha
chando vā rāgo vā pemaṃ vā”ti?
“no hetaṃ, bhante”.
“ettha ca te, mālukyaputta, diṭṭhasutamutaviññātabbesu
dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṃ
bhavissati, sute sutamattaṃ
bhavissati, mute mutamattaṃ
bhavissati, viññāte
viññātamattaṃ bhavissati. yato
kho te, mālukyaputta,
diṭṭhasutamutaviññātabbesu
dhammesu diṭṭhe diṭṭhamattaṃ
bhavissati, sute sutamattaṃ
bhavissati, mute mutamattaṃ
bhavissati, viññāte
viññātamattaṃ bhavissati; tato
tvaṃ, mālukyaputta, na tena.
yato tvaṃ, mālukyaputta, na
tena; tato tvaṃ, mālukyaputta,
na tattha. yato tvaṃ,
mālukyaputta, na tattha; tato
tvaṃ, mālukyaputta, nevidha, na
huraṃ, na ubhayamantarena.
esevanto dukkhassā”ti. “rūpaṃ disvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa {ajjhosāya (sī.)} tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rūpasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. “saddaṃ sutvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā saddasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. “gandhaṃ ghatvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā gandhasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rasasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. “phassaṃ phussa sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā phassasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. “dhammaṃ ñatvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā dhammasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. “na so rajjati rūpesu, rūpaṃ disvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa passato rūpaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccati. “na so rajjati saddesu, saddaṃ sutvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa suṇato saddaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccati. “na so rajjati gandhesu, gandhaṃ ghatvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa ghāyato gandhaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccati. “na so rajjati rasesu, rasaṃ bhotvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa sāyato rasaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccati. “na so rajjati phassesu, phassaṃ phussa paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa phusato phassaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccati. “na so rajjati dhammesu, dhammaṃ ñatvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa jānato dhammaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccatī”ti. “imassa khvāhaṃ, bhante, bhagavatā saṃkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena atthaṃ ājānāmī”ti. “sādhu sādhu, mālukyaputta! sādhu kho tvaṃ, mālukyaputta, mayā saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ ājānāsi — “rūpaṃ disvā sati muṭṭhā, piyaṃ nimittaṃ manasi karoto. sārattacitto vedeti, tañca ajjhosa tiṭṭhati. “tassa vaḍḍhanti vedanā, anekā rūpasambhavā. abhijjhā ca vihesā ca, cittamassūpahaññati. evaṃ ācinato dukkhaṃ, ārā nibbānamuccati. ... pe ..... “na so rajjati dhammesu, dhammaṃ ñatvā paṭissato. virattacitto vedeti, tañca nājjhosa tiṭṭhati. “yathāssa vijānato dhammaṃ, sevato cāpi vedanaṃ. khīyati nopacīyati, evaṃ so caratī sato. evaṃ apacinato dukkhaṃ, santike nibbānamuccatī”ti. “imassa kho, mālukyaputta, mayā saṃkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
atha kho āyasmā mālukyaputto bhagavato bhāsitaṃ abhinanditvā
anumoditvā uṭṭhāyāsanā
bhagavantaṃ abhivādetvā
padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. atha
kho āyasmā mālukyaputto eko
vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva
— yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ
pabbajanti tadanuttaraṃ
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja vihāsi. “khīṇā jāti,
vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsi. aññataro ca
panāyasmā mālukyaputto arahataṃ
ahosīti. dutiyaṃ.
Bấy giờ Tôn giả Māluṅkyaputta đi đến
Thế Tôn … và bạch rằng:
[ Đức Thế Tôn đáp:]
“Bạch Thế Tôn, dù con đã già, tuổi cao, đời sống sắp chấm dứt, xin Thế Tôn
hãy từ bi giảng pháp yếu cho
con. Biết đâu con có thể hiểu
được ý nghĩa lời Thế Tôn và trở
thành người thừa tự chân chánh
của giáo pháp ấy.”
“Này Māluṅkyaputta, Thầy nghĩ sao: Thầy có khởi dục vọng, tham ái hay
quyến luyến gì đối với các sắc
do mắt nhận biết mà Thầy chưa
từng thấy, không đang thấy và
cũng không có lý do gì để nghĩ
rằng sẽ thấy không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Thầy có khởi dục vọng, tham ái hay quyến luyến gì đối với các tiếng do
tai nghe … mùi do mũi ngửi … vị
do lưỡi nếm … xúc chạm do thân
cảm nhận … [73] các pháp do ý
nhận biết mà Thầy chưa từng nhận
thức, không đang nhận thức và
không nghĩ sẽ nhận thức không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Này Māluṅkyaputta, về các pháp Thầy đã thấy, nghe, cảm nhận và nhận biết:
Khi nào, này Māluṅkyaputta, với cái đã thấy, nghe, cảm nhận và nhận biết,
“Bạch Thế Tôn, con đã hiểu rõ ý nghĩa lời Thế Tôn dạy một cách tóm lược
như sau:
“Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa lời
dạy tóm lược của Ngài theo cách
như vậy.”
“Lành thay, lành thay, này Māluṅkyaputta! Thật tốt lành khi Thầy đã hiểu
rõ chi tiết ý nghĩa lời ta đã
giảng tóm lược.
(Đức Phật lặp lại toàn bộ bài kệ phía trên).
Rồi Tôn giả Māluṅkyaputta hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, đứng dậy,
đảnh lễ Ngài, đi nhiễu
bên
phải, rồi rời đi.
Sau đó, sống một mình, ẩn cư, tinh tấn, nhiệt thành, và kiên trì, Tôn giả
Māluṅkyaputta chứng ngộ pháp ấy
nhờ tự thân liễu tri, ngay trong
đời sống này đã đạt đến mục đích
cao thượng mà bậc xuất gia chơn
chánh hướng đến — Ngài đã tự
mình biết rõ: “Sanh đã tận, phạm
hạnh đã thành, việc cần làm đã
làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.” Và Tôn giả
Māluṅkyaputta đã trở thành một
vị A-la-hán.
Chú Thích
Tôn giả Mālunkyāputta (còn gọi là Mālunkyaputta hay Mālukyaputta) là con
trai của một vị quan triều đình
xứ Kosala, mẹ là bà Mālunkyā. Từ
nhỏ ông đã có khuynh hướng tôn
giáo, sau trở thành du sĩ, rồi
nghe Đức Phật thuyết pháp mà
xuất gia, và chứng quả A-la-hán.
Malunkyaputta xuất hiện trong Trung Bộ Kinh số 63 và 64. Các bài kệ của vị
nầy cũng xuất hiện trong
Theragāthā từ câu 794–817. Cũng
có thể thấy vị nầy trong Tăng
Chi Bộ Kinh (AN I 248–249), nơi
vị nầy một lần nữa xin được
thuyết pháp khi đã về già. Chú
giải (Spk) giải thích rằng: khi
còn trẻ, vị nầy sống buông lung
và đắm chìm trong các dục lạc;
đến tuổi già, vị nầy mới muốn
vào rừng sống ẩn cư và hành
thiền.
Theo Sớ giải, Đức Thế Tôn mở đầu pháp thoại với lời vừa để khiển trách,
vừa để tán dương. Ngài khiển
trách vì vị nầy đã trì hoãn việc
tu hành cho đến khi tuổi già, và
Ngài tán dương nhằm làm gương
cho các Tỳ-kheo trẻ.
Chú giải giải thích adittha là “chưa từng thấy trong kiếp hiện tại” và
aditthapubba là “chưa từng thấy
trong quá khứ”. Một ví dụ minh
họa có thể tìm thấy ở Kinh 42:11
(IV 329,20–22).
Lời dạy tương tự cũng được ban cho vị khổ hạnh Bāhiya Dārucīriya trong
Udāna 8.5. Ý nghĩa đoạn này rất
cô đọng và đôi khi vượt ra ngoài
cấu trúc ngữ pháp thông thường
(ví dụ như cách sử dụng na tena
và na tattha như thể là chủ từ
trong câu).
Các bài kệ tiếp theo là để khai triển ý nghĩa ngắn gọn mà Đức Phật đã nói.
Khīyati no pacīyati – nghĩa là “tâm được đoạn tận, không tích tụ thêm.”
Sớ Giải
95. dutiye mālukyaputtoti mālukyabrāhmaṇiyā putto. etthāti
etasmiṃ tava ovādāyācane. iminā
theraṃ apasādetipi ussādetipi.
kathaṃ? ayaṃ kira daharakāle
rūpādīsu pamajjitvā pacchā
mahallakakāle araññavāsaṃ
patthento kammaṭṭhānaṃ yācati.
atha bhagavā “ettha dahare kiṃ
vakkhāma? mālukyaputto viya
tumhepi taruṇakāle pamajjitvā
mahallakakāle araññaṃ pavisitvā
samaṇadhammaṃ kareyyāthā”ti
iminā adhippāyena bhaṇanto
theraṃ apasādeti nāma.
yasmā pana thero mahallakakālepi araññaṃ pavisitvā
samaṇadhammaṃ kātukāmo, tasmā
bhagavā “ettha dahare kiṃ
vakkhāma? ayaṃ amhākaṃ
mālukyaputto mahallakakālepi
araññaṃ pavisitvā samaṇadhammaṃ
kattukāmo kammaṭṭhānaṃ yācati,
tumhe nāma taruṇakālepi vīriyaṃ
na karothā”ti iminā adhippāyena
bhaṇanto theraṃ ussādeti nāma.
yatra hi nāmāti yo nāma. kiñcāpāhanti kiñcāpi “ahaṃ
mahallako”ti ñātaṃ. yadi ahaṃ
mahallako, mahallako samānopi
sakkhissāmi samaṇadhammaṃ kātuṃ,
desetu me, bhante, bhagavāti
adhippāyena mahallakabhāvaṃ
anuggaṇhanto ovādañca pasaṃsanto
evamāha.
adiṭṭhā adiṭṭhapubbāti imasmiṃ attabhāve adiṭṭhā atītepi
adiṭṭhapubbā. na ca passasīti
etarahipi na passasi. na ca te
hoti passeyyanti evaṃ
samannāhāropi te yattha natthi,
api nu te tattha chandādayo
uppajjeyyunti pucchati.
diṭṭhe diṭṭhamattanti rūpāyatane cakkhuviññāṇena diṭṭhe
diṭṭhamattaṃ bhavissati.
cakkhuviññāṇañhi rūpe
rūpamattameva passati, na
niccādisabhāvaṃ, iti
sesaviññāṇehipi me ettha
diṭṭhamattameva cittaṃ
bhavissatīti attho. atha vā
diṭṭhe diṭṭhaṃ nāma
cakkhuviññāṇaṃ, rūpe
rūpavijānananti attho. mattāti
pamāṇaṃ, diṭṭhaṃ mattā assāti
diṭṭhamattaṃ, cittaṃ,
cakkhuviññāṇamattameva me cittaṃ
bhavissatīti attho. idaṃ vuttaṃ
hoti — yathā āpāthagatarūpe
cakkhuviññāṇaṃ na rajjati na
dussati na muyhati, evaṃ
rāgādivirahena
cakkhuviññāṇamattameva javanaṃ
bhavissati,
cakkhuviññāṇapamāṇeneva javanaṃ
ṭhapessāmīti. atha vā diṭṭhaṃ
nāma cakkhuviññāṇena
diṭṭharūpaṃ, diṭṭhe diṭṭhamattaṃ
nāma tattheva uppannaṃ
sampaṭicchanasantīraṇavoṭṭhabbanasaṅkhātaṃ
cittattayaṃ. yathā taṃ na
rajjati, na dussati, na muyhati,
evaṃ āpāthagate rūpe teneva
sampaṭicchanādippamāṇena javanaṃ
uppādessāmi, nāhaṃ taṃ pamāṇaṃ
atikkamitvā rajjanādivasena
uppajjituṃ dassāmīti ayamettha
attho. eseva nayo sutamutesu.
viññāte viññātamattanti ettha pana viññātaṃ nāma
manodvārāvajjanena
viññātārammaṇaṃ, tasmiṃ viññāte
viññātamattanti āvajjanapamāṇaṃ.
yathā āvajjanena na rajjati na
dussati na muyhati, evaṃ
rajjanādivasena uppajjituṃ
adatvā āvajjanapamāṇeneva cittaṃ
ṭhapessāmīti ayamettha attho.
yatoti yadā. tatoti
tadā. na tenāti tena rāgena vā
ratto, dosena vā duṭṭho, mohena
vā mūḷho na bhavissati. tato
tvaṃ mālukyaputta na tatthāti
yadā tvaṃ tena rāgena vā
dosamohehi vā ratto vā duṭṭho vā
mūḷho vā na bhavissasi, tadā
tvaṃ na tattha tasmiṃ diṭṭhe vā
sutamutaviññāte vā paṭibaddho
allīno patiṭṭhito nāma
bhavissasi. nevidhātiādi
vuttatthameva.
sati muṭṭhāti sati naṭṭhā. tañca ajjhosāti taṃ ārammaṇaṃ
gilitvā. abhijjhā ca vihesā cāti
abhijjhāya ca vihiṃsāya ca. atha
vā “tassa vaḍḍhantī”ti padenāpi
saddhiṃ yojetabbaṃ, abhijjhā ca
vihesā cāti imepi dve dhammā
tassa vaḍḍhantīti attho.
cittamassūpahaññatīti
abhijjhāvihesāhi assa cittaṃ
upahaññati. ācinatoti
ācinantassa. ārā nibbāna
vuccatīti evarūpassa puggalassa
nibbānaṃ nāma dūre pavuccati.
ghatvāti ghāyitvā. bhotvāti
bhutvā sāyitvā lehitvā. phussāti
phusitvā. paṭissatoti
paṭissatisaṅkhātāya satiyā
yutto. sevato cāpi vedananti
catumaggasampayuttaṃ
nibbattitalokuttaravedanaṃ
sevantassa. khīyatīti khayaṃ
gacchati. kiṃ taṃ? dukkhampi
kilesajātampi. aññataroti
asītiyā mahāsāvakānaṃ abbhantaro
eko. iti imasmiṃ sutte gāthāhipi
vaṭṭavivaṭṭameva kathitaṃ.
“Māluṅkyaputta” ở
phần thứ hai có nghĩa là con trai của bà Bà-la-môn Māluṅkyā.
“Ở đây” (ettha) nghĩa là: trong việc vị nầy
xin Thế Tôn ban lời giáo huấn.
Qua điều này, Đức Thế Tôn vừa khiển trách vừa tán dương Tôn giả.
Thế nào là khiển trách và tán dương?
Tương truyền rằng, khi còn trẻ, Tôn giả đã buông lung trong các dục trần
như sắc, thanh v.v., đến khi về
già, ông mới phát tâm muốn sống
đời ẩn cư trong rừng và hành
thiền, do đó mới đến cầu xin đề
mục hành thiền.
Vì vậy, Đức Thế Tôn nói với ý rằng:
Tuy nhiên, vì Tôn giả dù đã già vẫn còn tinh tấn, muốn vào rừng sống đời
ẩn tu và thực hành chánh pháp,
nên Đức Thế Tôn lại có ý tán
dương như sau:
“Yatra hi nāma” nghĩa là “khi ai đó…”;
“Adiṭṭhā adiṭṭhapubbā” nghĩa là:
những gì chưa từng thấy trong
đời này, và chưa từng thấy trong
các đời trước.
“Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ”: Trong cảnh sắc, nơi mắt và nhãn thức
tiếp xúc, chỉ nên có “cái được
thấy”. Nhãn thức chỉ biết sắc,
không suy diễn bản thể thường
hằng, v.v.
Do đó, tâm (javana) của ta sẽ chỉ là thị giác, không đi xa hơn.
Hoặc có thể hiểu:
“Viññāte viññātamattaṃ”: Đối với
các pháp do ý môn nhận biết,
“Yato – tato – na tena”:
“Nevidha na huraṃ na ubhayamantarena”:
“Sati muṭṭhā”: nghĩa là mất chánh niệm.
“Cittamassūpahaññati”: Tâm của người ấy bị tổn hại do tham
và sân.
“Ācinato”: do tích lũy liên tục.
“Ghatvā”: là ngửi mùi,
“Vedanaṃ sevato”: là cảm thọ liên kết với Thánh đạo.
“aññataroti asītiyā mahāsāvakānaṃ abbhantaro eko”: là một trong số 80 vị
đại đệ tử.
Như vậy, trong bài kinh này, các bài kệ cũng diễn giải chủ đề luân hồi
(vaṭṭa) và thoát ly luân hồi khổ
(vivaṭṭa).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
95. I. Thâu Nhiếp (S.iv,72)
1) ...
2) Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế
Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn
tắt cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống
một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4) -- Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các
Tỷ-kheo trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên
cao, đại lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối
cuộc đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?
5) -- Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại
lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời,
mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện
Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ
hiểu ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở
thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.
6) -- Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt
nhận thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay
Ông không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với
chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
7) -- Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước
đây Ông không nghe, nay Ông không nghe, và Ông không
muốn nghe; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham
hay khát ái hay không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
8) -- Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước
đây Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không
muốn ngửi; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham
hay khát ái không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
9) -- Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây
Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm;
ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10) -- Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ,
trước đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và
Ông không muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng
dục, tham hay khát ái không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
11) -- Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận
thức, trước đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn
nhận thức;ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay
khát ái không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
12) -- Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được
thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ
chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ nghe được
với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận được đối với
những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận biết được đối với
những vật có thể nhận biết được.
13) Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được
thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ
chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với
những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật
cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận
biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có vì
cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không có vì cái ấy,
nên Ông không có: "Ở nơi đây". Do vì, này Màlukyaputta,
Ông không có: "Ở nơi đây", do vậy, này Màlukyaputta, Ông
sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Ðây là
sự chấm dứt khổ đau.
14) -- Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn,
con hiểu một cách rộng rãi như sau:
1) Thấy sắc, niệm mê say,
2) Nghe tiếng, niệm mê say,
3) Ngửi hương, niệm mê say,
4) Nếm vị, niệm mê say,
5) Cảm xúc, niệm mê say,
6) Biết pháp, niệm mê say,
7) Vị ấy không tham sắc,
8) Vị ấy không tham tiếng,
9) Vị ấy không tham hương,
10) Vị ấy không tham vị,
11) Vị ấy không tham xúc,
12) Vị ấy không tham pháp,
Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một
cách rộng rãi như vậy.
15) -- Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành
thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi:
1) Thấy sắc, niệm mê say,
2) - 11) ...
12) Vị ấy không tham pháp,
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần
phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
16) Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ
lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn,
thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
17) Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu,
chứng được mục đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chính là
vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự
mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị
ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
18) Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán
nữa. |