|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 05 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 393. DẤU HIỆU XUỐNG CẤP- Kinh Suy Thoái (Parihānadhammasuttaṃ).
******
Một
trong những kỹ năng thiết yếu
của hành giả là nhận diện sớm
dấu hiệu lui sụt trên đường tu.
Tà tư duy – những dòng suy nghĩ
nghiêng về dục, sân, hay hại –
chính là điểm mấu chốt để “bắt
mạch” tâm. Khi các tư duy ấy
xuất hiện thường xuyên, mãnh
liệt, đó là dấu hiệu cho thấy
thiện pháp đang suy giảm. Đức
Phật dạy phải quán sát kỹ lúc
mắt thấy sắc, tai nghe tiếng,
mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân
xúc chạm, và ý khởi tưởng – vì
chính tại các căn môn này, vọng
tâm dễ sinh khởi. Người biết chế
ngự và gìn giữ sáu căn, không để
tâm chạy theo cảnh, là người đã
làm chủ thân tâm.
Kinh Văn
96. “parihānadhammañca vo,
bhikkhave, desessāmi
aparihānadhammañca cha ca
abhibhāyatanāni. taṃ suṇātha.
kathañca, bhikkhave,
parihānadhammo hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā
rūpaṃ disvā uppajjanti pāpakā
akusalā sarasaṅkappā {akusalā
dhammā sarasaṅkappā (syā. kaṃ.
pī. ka.) upari āsīvisavagge
sattamasutte pana “ākusalā
sarasaṅkappā” tveva sabbattha
dissati} saṃyojaniyā. tañce
bhikkhu adhivāseti nappajahati
na vinodeti na byantīkaroti
{byantikaroti (pī.) byantiṃ
karoti (ka.)} na anabhāvaṃ
gameti, veditabbametaṃ,
bhikkhave, bhikkhunā —
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
parihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti ... pe ....
“puna caparaṃ,
bhikkhave, bhikkhuno jivhāya
rasaṃ sāyitvā uppajjanti ... pe
... puna caparaṃ, bhikkhave,
bhikkhuno manasā dhammaṃ viññāya
uppajjanti pāpakā akusalā
sarasaṅkappā saṃyojaniyā. tañce
bhikkhu adhivāseti nappajahati
na vinodeti na byantīkaroti na
anabhāvaṃ gameti,
veditabbametaṃ, bhikkhave,
bhikkhunā — ‘parihāyāmi kusalehi
dhammehi’. parihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti. evaṃ kho,
bhikkhave, parihānadhammo hoti.
“kathañca, bhikkhave,
aparihānadhammo hoti? idha,
bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā
rūpaṃ disvā uppajjanti pāpakā
akusalā sarasaṅkappā
saṃyojaniyā. tañce bhikkhu
nādhivāseti pajahati vinodeti
byantīkaroti anabhāvaṃ gameti,
veditabbametaṃ, bhikkhave,
bhikkhunā — ‘na parihāyāmi
kusalehi dhammehi’.
aparihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti ... pe ....
“puna caparaṃ, bhikkhave,
bhikkhuno jivhāya rasaṃ sāyitvā
uppajjanti ... pe ... puna
caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno
manasā dhammaṃ viññāya
uppajjanti pāpakā akusalā
sarasaṅkappā saṃyojaniyā. tañce
bhikkhu nādhivāseti pajahati
vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ
gameti, veditabbametaṃ,
bhikkhave, bhikkhunā — ‘na
parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
aparihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti. evaṃ kho,
bhikkhave, aparihānadhammo hoti.
“katamāni ca, bhikkhave,
cha abhibhāyatanāni? idha,
bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā
rūpaṃ disvā nuppajjanti pāpakā
akusalā sarasaṅkappā
saṃyojaniyā. veditabbametaṃ,
bhikkhave, bhikkhunā —
‘abhibhūtametaṃ āyatanaṃ’.
abhibhāyatanañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti ... pe ... puna
caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno
manasā dhammaṃ viññāya
nuppajjanti pāpakā akusalā
dhammā sarasaṅkappā saṃyojaniyā.
veditabbametaṃ, bhikkhave,
bhikkhunā — ‘abhibhūtametaṃ
āyatanaṃ’. abhibhāyatanañhetaṃ
vuttaṃ bhagavatāti. imāni
vuccanti, bhikkhave, cha
abhibhāyatanānī”ti. tatiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng
cho các thầy về người bị thối
thất, người không bị thối thất,
và về sáu xứ được làm chủ. Hãy
lắng nghe …
[Người Bị Thối thất]
Và này các Tỳ khưu, thế nào là
người bị thối thất?
Ở đây, một Tỳ khưu khi thấy sắc
bằng mắt, khởi lên các pháp ác,
bất thiện – những ký ức và tư
duy liên hệ đến các kiết sử.
Nếu vị Tỳ khưu ấy chấp nhận,
không từ bỏ, không xua đuổi,
không đoạn trừ, và không làm
tiêu mất chúng, thì nên hiểu như
sau:
“Ta đang thối thất khỏi các
thiện
pháp.”
Bởi vì, điều này đã được Thế Tôn
gọi là sự thối thất.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, khi
một Tỳ khưu nghe âm thanh bằng
tai, … hoặc nhận biết cảnh pháp
bằng ý, khởi lên các pháp ác,
bất thiện – những ký ức và tư
duy liên hệ đến các kiết sử,
Nếu vị ấy chấp nhận và không từ
bỏ, thì nên hiểu:
“Ta đang thối thất khỏi các
thiện pháp.” Vì điều này đã được
Thế Tôn gọi là sự thối thất.
Này các Tỳ khưu, đó là cách một
người bị thối thất.
[Người Không Bị Thối thất]
Và này các Tỳ khưu, thế nào là
người không bị thối thất?
Ở đây, một Tỳ khưu khi thấy sắc
bằng mắt, khởi lên các pháp ác,
bất thiện – những ký ức và tư
duy liên hệ đến các kiết sử.
Nhưng nếu vị ấy không chấp nhận,
mà từ bỏ, xua đuổi, đoạn trừ, và
làm tiêu mất chúng, thì nên
hiểu:
“Ta không bị thối thất khỏi các
thiện pháp.”
Vì điều này đã được Thế Tôn gọi
là không thối thất.
Cũng vậy, khi vị ấy nghe âm
thanh bằng tai … hoặc nhận biết
cảnh pháp bằng ý, và nếu vị ấy
không dung chứa các pháp bất
thiện mà từ bỏ và đoạn trừ
chúng, thì nên hiểu:
“Ta không bị thối thất khỏi các
thiện pháp.” Vì điều này đã được
Thế Tôn gọi là không thối thất.
Này các Tỳ khưu, đó là cách một
người không bị thối thất.
[Sáu Xứ Được Làm Chủ]
8Và này các Tỳ khưu, thế nào là
sáu xứ được làm chủ?
Ở đây, một Tỳ khưu khi thấy sắc
bằng mắt, không khởi lên các
pháp ác, bất thiện – không có
các ký ức hay tư duy liên hệ đến
các kiết sử.
Vị ấy nên hiểu:
“Xứ này đã được làm chủ.”
Vì điều này đã được Thế Tôn gọi
là xứ được làm chủ.
Tương tự, này các Tỳ khưu, khi
một Tỳ khưu nghe âm thanh bằng
tai … hoặc nhận biết cảnh pháp
bằng ý, mà không khởi lên các
pháp ác, bất thiện, thì vị ấy
nên hiểu:
“Xứ này đã được làm chủ.”
Này các Tỳ khưu, đó là sáu xứ
được làm chủ.
Chú Thích
Sarasaṅkappa saṃyojaniya – Những
tư duy (ý định) có tính ghi nhớ,
liên kết với kiết sử.
Sāratthappakāsinī
( Sớ giải của Bộ Tăng
Chi) giải thích "sara" là từ
"saranti" (chạy, di chuyển),
được chú thích thêm là
"dhavanti" (chạy nhanh). Tuy
nhiên, bản dịch ở đây chọn cách
hiểu "sara" là “nhớ lại” – cũng
là gốc của từ sati, mang nghĩa
vừa là ký ức vừa là chánh niệm.
Ở đây “sarasaṅkappa” được hiểu
là những tư duy có tính hồi
tưởng, những dòng tưởng nhớ đến
những cảnh dục, oán hận, hay
triền phược trong tâm – chúng có
liên kết với kiết sử
(saṃyojana), tức là các trói
buộc tâm linh như tham, sân, si,
ngã mạn...
Cha abhibhāyatanāni – Sáu xứ
được làm chủ.
Sớ giải chú thích rằng đây là
“abhibhāvitāni āyatanāni” –
nghĩa là các xứ đã được chế ngự/
vượt qua.
Tuy nhiên, cần lưu ý: Sáu xứ này
khác hoàn toàn với “tám thắng xứ
(aṭṭha abhibhāyatanāni)” được
nhắc đến trong Trường Bộ (DN I
110–111) và Trung Bộ (MN I
13–14) – vốn liên quan đến các
tầng thiền sắc và vô sắc trong
thiền định.
Ở đây, “sáu xứ được làm chủ” là
sáu căn môn (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý) đã được hành giả
huấn luyện kỹ càng đến mức khi
tiếp xúc với cảnh, không khởi
lên pháp bất thiện. Tức là căn
đã được chế ngự, không còn bị
cảnh chi phối.
Sớ Giải
96. tatiye parihānadhammanti
parihānasabhāvaṃ.
abhibhāyatanānīti abhibhavitāni
āyatanāni. sarasaṅkappāti ettha
sarantīti sarā, dhāvantīti
attho. sarā ca te saṅkappā ca
sarasaṅkappā. saṃyojaniyāti
bandhaniyā bandhanassa
paccayabhūtā. tañce bhikkhūti
taṃ evaṃ uppannaṃ kilesajātaṃ,
taṃ vā ārammaṇaṃ. adhivāsetīti
citte āropetvā vāseti.
nappajahatīti
chandarāgappahānena na pajahati.
evaṃ sabbapadehi yojetabbaṃ.
abhibhāyatanañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti etaṃ buddhena
bhagavatā abhibhavitaṃ
āyatananti kathitaṃ. idha
dhammaṃ pucchitvā vibhajantena
puggalena dhammo dassito.
Giải thích thuật ngữ và nội dung
– Kinh 96 (Tatiya):
parihānadhammanti:
“Pháp đưa đến thoái hóa” – tức
là tánh chất, bản chất của sự
thối thất, chỉ các điều kiện làm
cho thiện pháp suy giảm.
abhibhāyatanānīti:
“Các xứ được làm chủ
(abhibhāyatana)” – tức là những
căn môn đã được vượt qua, chế
ngự; nghĩa đen: “các xứ đã bị
chinh phục”.
sarasaṅkappā:
Ở đây, “sarantīti sarā” nghĩa
là: “sarā” là những gì ghi nhớ,
hồi tưởng. “dhāvantīti attho”:
cũng có nghĩa là “chạy theo,
trôi theo” (hướng ra ngoài).
saṃyojaniyā:
nghĩa là: “bandhaniyā” – những
gì có tính trói buộc.
“bandhanassa paccayabhūtā” – tức
là nguyên nhân của sự trói buộc.
Những tư duy ấy là duyên sanh ra
sự trói buộc, khiến tâm bị ràng
buộc trong luân hồi.
tañce bhikkhu::
nếu vị Tỷ-kheo ấy, khi có những
phiền não ấy sinh khởi…“taṃ evaṃ
uppannaṃ kilesajātaṃ, taṃ vā
ārammaṇaṃ”: nghĩa là phiền não
đã sinh, hoặc cảnh (ārammaṇa)
kích hoạt phiền não đó.
adhivāseti:để
nó ngự trị trong tâm, an trú,
chấp nhận nó mà không chống lại.
Gốc từ “citte āropetvā vāseti”:
đặt nó vào tâm và để nó ở đó.
nappajahatīti:
không từ bỏ tức không từ bỏ bằng
cách đoạn trừ tham ái
(chanda-rāga-pahāna).
evaṃ sabbapadehi yojetabbaṃ:
abhibhāyatanañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti:
etaṃ buddhena bhagavatā
abhibhavitaṃ āyatanaṃ ti
kathitaṃ:
idha dhammaṃ pucchitvā
vibhajantena puggalena dhammo
dassito:
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
96. III. Thối Ðọa (Parihànam)
(S.iv,76)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp
thối đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?
4-6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy
sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ
đến kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng
(adhivàseti), không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu
diệt, không khiến chúng không thể sanh khởi, thời này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối
thất các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối
đọa,... tai nghe tiếng... mũi ngửi hương...
7-8) ... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
9) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp,
các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến
kiết sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng, không
từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến
chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện
pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp thối đọa.
10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp thối đọa.
11) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là pháp bất thối
đọa?
12-24) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy
sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ
đến kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt,
khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất
các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối
đọa.... tai nghe tiếng... mũi ngửi hương...
15-16) ... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
17) Ở đây, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp,
các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến
kiết sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo
không có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt,
khiến chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất
các thiện pháp". Ðây Như Lai gọi là pháp bất thối đọa.
18) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp bất thối đọa.
19) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thắng xứ?
20-24) Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi mắt
thấy sắc, các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy
liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Xứ này đã được nhiếp
phục". Và Như Lai gọi đây là thắng xứ... tai...mũi...
lưỡi... thân...
25) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi ý nhận
thức pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy
liên hệ đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Xứ này đã được nhiếp
phục". Và Như Lai gọi đây là thắng xứ. |