BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Hai, 07 tháng 04, 2025

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

XXVI. Phẩm Bà La Môn (Brahmaṇavagga)

Gồm 41 bài kệ với 40 duyên sự.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/PC-417.jpg

Kệ số 35 (dhp 417)

Chánh văn:

 

(dhp 417)

35. Hitvā mānusakaṃ yogaṃ
dibbaṃ yogaṃ upaccayā
sabbayogavisaṃyuttaṃ
tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

Thích văn:

Hitvā [bất biến quá khứ phân từ của động từ jahati; Còn có hình thức khác: Jahitā. “can hā + a + tvā”] sau khi từ bỏ, đã bỏ rơi.
Mānusakaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ chuyển hóa mānusaka (mānusa + ka)] thuộc về nhân loại, thuộc loài người.
Yogaṃ [đối cách, số ít, nam tính, danh từ yoga] ách phược, sự ràng buộc.
Dibbaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ dibba] thuộc về tiên thiên, thuộc loài trời.
Upaccagā [động từ quá khứ, quá khứ cách, parassapada, ngôi III, số ít, “upa + ati +
can gam”] đã vượt qua, đã thoát khỏi.
Sabbayogavisaṃyuttaṃ [đối cách, số ít, nam tính, tính từ hợp thể Sabbayogavisaṃyutta (“sabba + yoga” + visaṃyutta)] lìa khỏi mọi sự ràng buộc, ly ách phược.

Việt văn:

(pc 417)

35. Bỏ trói buộc cõi người,
vượt trói buộc cõi trời,
lìa khỏi mọi ách phước,
ta gọi ấy Phạm chí.

Chuyển văn:

35. Mānusakaṃ yogaṃ hitvā dibbaṃ yogaṃ upaccayā sabbayogavisaṃyuttaṃ taṃ ahaṃ brāhmaṇaṃ brūmi.

35. Người đã dứt bỏ sự ràng buộc cõi người, vượt qua sự ràng buộc cõi trời, thoát ly mọi buộc ràng_người ấy, ta gọi là vị bà la môn.

Duyên sự:

Bài kệ nầy đức Phật thuyết ở thành Rājagaha khi Ngài trú ở chùa Veḷuvana, do chuyện vị tỳ kheo xưa là diễn viên múa.

Trong thành Rājagaha có một nam diễn viên múa, khi lưu diễn khắp nơi nhân duyên được nghe đức Phật thuyết pháp, người ấy phát tâm xuất gia theo đức Phật rồi chứng đắc A la hán.

Một ngày kia, vị ấy đi khất thực trong thành cùng với chúng tỳ kheo do đức Phật dẫn đầu. Khi đi ngang qua chổ biểu diễn nghệ thuật múa, các tỳ kheo thấy một diễn viên đang khiêu vũ. Thấy vậy, chư tỳ kheo hỏi vị tỳ kheo xưa là diễn viên múa: “ Này hiền giả, người đó đang biểu diễn nghệ thuật múa mà hiền giả đã từng biểu diễn, bây giờ hiển giả có còn thích thú việc nầy chăng?” Tỳ kheo ấy đáp “tôi không còn thích thú nữa”.

Khi về đến chùa, các vị tỳ kheo đem lời nói ấy bạch trình lên đức Thế Tôn, cho rằng tỳ kheo ấy nói không thật, khoe pháp thượng nhân.

Đức Phật phán dạy: “Này chư tỳ kheo, quả thật vậy con trai của ta đã vượt qua mọi sự trói buộc rồi”. Nói xong Ngài thuyết lên bài kệ nầy: Hitvā mānusakaṃ yogaṃ…v.v…tamahaṃ brūmi brāhmaṇan’ ti.

Dứt kệ ngôn có nhiều vị tỳ kheo đắc được quả thánh.

Lý giải:

Sự ràng buộc ở cõi người (mānusakaṃ yogaṃ) tức là năm trưởng dưỡng và tuổi thọ ở cõi nhân loại (mānusakaṃ āyuñceva pañca kāmaguṇe ca).

Sự ràng buộc cõi trời (dibbaṃ  yogaṃ) tức là tuổi thọ và năm dục trưởng dưỡng ở cõi chư thiên (dibbaṃ āyuñceva pañca kāmaguṇe ca).

Bỏ ràng buộc cõi người, vượt ràng buộc cõi trời (mānusakaṃ yogaṃ hitvā dibbaṃ yogaṃ upaccagā), tức là vượt qua không dính mắc cõi người và cõi trời (mānusakaṃ yogaṃ dibbaṃ yogaṃ atikkanto).

Ta gọi người ấy là bà la môn (tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ). Người ấy (taṃ) là người lìa khỏi bốn ách phược (dục ách, hửu ách, kiến ách và vô minh ách). Đức Phật gọi người ly bốn ách ấy là bậc Phạm chí, tức là bậc Lậu tận.

Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

-ooOoo-