|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 09 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 395. KHẢ NĂNG TỰ CHỦ- Kinh Tự Chế (Saṃvarasuttaṃ).
******
Kinh Văn
♦98. “saṃvarañca vo, bhikkhave, desessāmi, asaṃvarañca. taṃ
suṇātha. kathañca, bhikkhave,
asaṃvaro hoti? santi, bhikkhave,
cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati, veditabbametaṃ,
bhikkhave, bhikkhunā —
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
parihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti ... pe ... santi,
bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā
... pe ... santi, bhikkhave,
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati, veditabbametaṃ,
bhikkhave, bhikkhunā —
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
parihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti. evaṃ kho,
bhikkhave, asaṃvaro hoti.
“kathañca, bhikkhave, saṃvaro hoti? santi, bhikkhave,
cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati,
veditabbametaṃ, bhikkhave,
bhikkhunā — ‘na parihāyāmi
kusalehi dhammehi’.
aparihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti ... pe ... santi,
bhikkhave, jivhāviññeyyā rasā
... pe ... santi, bhikkhave,
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati,
veditabbametaṃ bhikkhunā — ‘na
parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
aparihānañhetaṃ vuttaṃ
bhagavatāti. evaṃ kho,
bhikkhave, saṃvaro hotī”ti.
pañcamaṃ.
1. “Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ giảng về người tự chế và người
không tự chế. Hãy lắng nghe...
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là không hộ trì? Ở đây, này chư Tỳ khưu,
có những
sắc được mắt nhận biết, khả ái,
đáng yêu, dễ chịu, làm vui
thích, hấp dẫn về dục, quyến rũ.
Nếu một vị Tỳ-kheo hoan hỷ
với chúng, đón nhận chúng, và
giữ chặt lấy chúng, vị ấy nên
hiểu như sau: ‘Ta đang thối đọa
khỏi các thiện pháp. Vì điều này
đã được đức Thế Tôn gọi là sự
lui sụt.’
“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có những tiếng được tai nhận biết … những cãnh
pháp do ý nhận biết, khả ái, hợp
ý, dễ chịu, làm vui thích, hấp
dẫn về dục, quyến rũ. Nếu một vị
Tỳ-kheo hoan hỷ với chúng, đón
nhận chúng, và giữ chặt lấy
chúng, vị ấy nên hiểu như sau:
‘‘Ta đang
thối đọa
khỏi các thiện pháp. Vì điều này
đã được đức Thế Tôn gọi là sự
lui sụt.’
“Này chư Tỳ khưu, như vậy là không tự chế.
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là sự tự chế?
Ở đây, này chư Tỳ khưu, có những sắc được mắt nhận biết, khả ái, đáng yêu,
dễ chịu, làm vui thích, hấp dẫn
về dục, quyến rũ. . Nếu một vị
Tỳ-kheo không hoan hỷ với chúng,
không đón nhận chúng, và không
giữ chặt lấy chúng, vị ấy nên
hiểu như sau:
‘Ta
không thối đọa khỏi các thiện
pháp. Vì điều này đã được đức
Thế Tôn gọi là không lui sụt.
“Cũng vậy, này chư Tỳ khưu, có những tiếng được tai nhận biết … những cảnh
pháp do ý nhận biết , khả ái,
hợp ý, dễ chịu, làm vui thích,
hấp dẫn về dục, quyến rũ. . Nếu
một vị Tỳ-kheo không hoan hỷ với
chúng, không đón nhận chúng, và
không giữ chặt lấy chúng, vị ấy
nên hiểu như sau: ‘‘Ta không
thối đọa khỏi các thiện pháp. Vì
điều này đã được đức Thế Tôn gọi
là không lui sụt.
“Này chư Tỳ khưu, như vậy là sự hộ trì.”
Chú Thích
Saṃvara có nghĩa là sự kiềm chế, kiểm soát, hoặc tự chế. Hoà thượng Thích
Minh Châu dịch là nhiếp hộ.
Trong Phật pháp, thuật ngữ này thường chỉ đến sự thực hành kiềm chế các
giác quan, lời nói và hành động
nhằm ngăn chặn sự khởi sinh của
các trạng thái tâm bất thiện. Ví
dụ:
Indriya-saṃvara – sự kiềm chế các căn, như giữ gìn mắt, tai, mũi, v.v., để
không bị cuốn vào tham ái hay
sân hận.
Sīla-saṃvara – sự kiềm chế thông qua giới luật, tức là tuân giữ các giới
để tránh các hành vi sai trái.
Đây là một phần thiết yếu trong sự huân tu trên con đường đưa đến giải
thoát.
Đối với cảnh vừa ý, yêu thích mà giữ được tâm không tham luyến được gọi là
biết phòng hộ, tự chế.
Sớ Giải
98. pañcame kathañca, bhikkhave, asaṃvaroti idaṃ
maggakusalassa vāmaṃ muñcitvā
dakkhiṇaṃ gaṇheyyāsīti paṭhamaṃ
pahātabbamaggakkhānaṃ viya
uddesakkamena avatvā
desanākusalatāya paṭhamaṃ
pahātabbadhammakkhānavasena
vuttanti veditabbaṃ. idha
dhammaṃ pucchitvā dhammova
vibhatto.
98. Bài kinh thứ năm:
“Và này chư Tỳ khưu, thế nào là không hộ trì?” — Câu hỏi này, thay vì được
nêu ra theo thứ tự mở đầu như
kiểu: “Hãy từ bỏ con đường bất
thiện trước tiên, giống như nói
cái cần buông rồi nói cái cần
nắm”, thì lại được trình bày
theo cách không theo liệt kê
thông thường mà
do
thiện xảo trong việc thuyết
giảng (thích hợp với căn cơ). Do
đó, nên được hiểu rằng: đây là
cách giảng dạy dựa trên việc
trình bày các pháp cần phải từ
bỏ trước tiên.
Ở đây, khi được hỏi về pháp, thì chỉ pháp được phân tích và giải thích.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
98. V. Nhiếp Hộ (Samvara)
(S.iv,79)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về nhiếp
hộ và không nhiếp hộ. Hãy lắng nghe.
3) Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ?
4-6) Và này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức
khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương và an trú
với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần
phải hiểu rằng: "Ta đã làm thối thất các thiện pháp".
Như Lai gọi đây là pháp thối đọa... Có những tiếng do
tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức...
7-8) Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do
thân cảm giác...
9) Có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý,
khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan
hỷ pháp ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến; thời
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta đã
làm thối thất các thiện pháp". Và Như Lai gọi đây là
thối thất.
10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ.
11) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nhiếp hộ?
12-14) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức
khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán
dương và an trú với tâm không tham luyến; thời này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm
thối thất các thiện pháp". Và Như Lai gọi đây là không
thối thất... Có những tiếng do tai nhận thức... Có những
hương do mũi nhận thức...
15-16) Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do
thân cảm giác...
17) Và này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu
một Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương và an
trú với tâm không tham luyến; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất các thiện
pháp". Và Như Lai gọi đây là không thối thất.
18) Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có nhiếp hộ. |