|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 14 tháng 04, 2025 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXVI. Phẩm Bà La Môn (Brahmaṇavagga) Gồm 41 bài kệ với 40 duyên sự.
Kệ số 37, 38 (dhp 419, 420)
Chánh văn:
(dhp 419)
37. Cutiṃ yo
vedi sattānaṃ
(dhp 420)
38. Yassa gatiṃ
na jānanti
Thích văn:
Cutiṃ
[đối
cách, số ít, nữ tính, danh từ
cuti] sự chết.
Việt văn:
(pc 419)
37. Ai hiểu rõ
hoàn toàn,
(pc 420)
38. Trời, người, càn thát bà
Chuyển văn:
37. Yo sattānaṃ cutiṃ ca
upapattiṃ ca sabbaso vedi asattaṃ sugataṃ buddhaṃ taṃ
ahaṃ brāhmaṇaṃ brūmi.
Ai hiểu hoàn toàn sự chết và sự
tái sanh của các loài hửu tình, không dính mắc đã đến
mục đích tốt đẹp, đã giác ngộ, ta gọi người ấy là bà la
môn.
38. Yassa devā gandhabbamānusā
gatiṃ na jānanti khīnāsavaṃ arahantaṃ taṃ ahaṃ brāhmaṇaṃ
brūmi.
Đối với người mà, chư thiên,
nhạc thần, nhân loại không biết được lộ trình, người ấy,
bậc lậu tận, A la hán, ta gọi là vị bà la môn.
Duyên sự:
Hai bài kệ nầy đức Phật thuyết
khi Ngài trú tại chùa Jetavana gần thành Sāvatthi, vì
chuyện trưởng lão Vaṅgīsa.
Ở kinh thành có một bà la môn tên Vaṅgīsa có biệt tài
khi gõ vào sọ đầu người chết thì biết người chết ấy tái
sanh ở đâu, sanh địa ngục hay ngạ quỉ, hay bàng sanh,
hay cõi người hay đã tái sanh cõi trời.
Các bà la môn thân cận nghĩ rằng: “Nương vào người
nầy chúng ta sẽ có miếng ăn sung sướng”. Họ bèn cho bà
la môn Vaṅgīsa đắp tấm choàng đỏ, để ngôi trên chiếc xe
rồi đưa đi khắc nơi và đến đâu họ cũng rao truyền biệt
tài của bà la môn Vaṅgīsa nếu gõ vào sọ đầu người chết là biết được sanh thú của quyến thuộc mình. Thế là
dân chúng đua nhau mời về nhà để hỏi số phận của thân
nhân mình, tùy theo khả năng mà cho tiền thưởng.
Nhóm bà la môn đưa Vaṅgīsa đi
tuần tự đã đến kinh thành Sāvatthi và dừng chân trú tại
một điểm gần chùa Jetavana.
Vào buổi sáng họ thấy dân chúng
tay cầm hương hoa đi về hướng Jetavana, hỏi ra biết dân
chúng đi nghe đức Phật thuyết pháp. Các bà la môn ấy bảo
với mọi người: “Quí vị đến đó có ích lợi gì chứ, không
ai giỏi hơn bà la môn Vaṇgīsa của chúng tôi đâu, vị ấy
chỉ gõ vào sọ đầu người chết thì biết người chết sanh về
đâu. Hãy hỏi sanh thú của bà con mình đi!”. Dân chúng
nói: “bà la môn Vaṅgīsa là ai chứ! Không ai ngang bằng
với bậc Đạo sư của chúng tôi cả”. Không bên nào thuyết
phục được bên nào. Cuối cùng, nhóm bà la môn chịu đi
theo hội chúng đến chùa gặp đức Phật.
Đức Thế Tôn biết được sẽ có bà
la môn Vaṅgīsa đến nên Ngài đã bảo một người mang đến
năm chiếc sọ đầu gồm bốn chiếc sọ của người sanh địa
ngục, bàng sanh, nhân loại và thiên giới, với một chiếc
sọ của bậc thánh Vô lậu, rồi đặt xuống đất một hàng theo
thứ tự. Khi các bà la môn đưa bà la môn Vaṅgīsa đến, đức
Phật hỏi Vaṅgīsa: “Nghe nói ngươi sau khi gõ lên sọ đầu người chết thì biết được sanh thú của
người ấy phải chăng ?” _ “Thưa vâng, tôi biết !”.
Rồi đức Phật chỉ cho Vaṅgīsa
từng chiếc đầu lâu và hỏi sanh thú. Bà la môn Vaṅgīsa
đều trả lời đúng cả bốn cái sọ đầu của người sanh địa
ngục, bàng sanh, nhân loại và chư thiên. Đức Phật khen
và xác nhận là đúng.
Nhưng cái sọ đầu của vị A la hán
thì Vaṅgīsa không thể biết cảnh giới tái sanh. Bà la môn
Vaṅgīsa thú thật là không biết và hỏi đức Phật, Ngài
biết không? Đức Phật phán: “Ta biết !”. Bà la môn
Vaṅgīsa xin đức Thế Tôn dạy cho mình chú thuật để biết
loại sọ đầu như vậy.
Đức Phật bảo chỉ dạy cho người
xuất gia thôi. Vaṅgīsa nói với các vị bà la môn hãy trú
ở đây vài ngày, ta sẽ xuất gia để học chú thuật.
Bà la môn Vaṅgīsa đã xuất gia
thọ cụ túc giới với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã dạy đề
mục thiền quán thích hợp cơ tánh của tỳ kheo Vaṅgīsa. Vị
ấy tinh tấn nỗ lực tác ý đến đề mục như thể để luyện chú thuật. Thỉnh thoảng các bà la
môn đến hỏi đã học chú thuật xong chưa, vị ấy nói đang
luyện tập.
Vài ngày sau đó tỳ kheo Vaṅgīsa
chứng đắc đạo quả A la hán. Nhóm bà la môn lại đến hỏi
việc học chú thuật nữa, trưởng lão Vaṅgīsa bảo với họ
rằng “các ông hãy đi đi. Nay ta không cần học nữa”. Chư
tỳ kheo nghe câu nói nầy cho rằng trưởng lão Vaṅgīsa
khoe pháp thượng nhân, nói không thật. Bèn trình lên bậc
Đạo sư.
Đức Phật phán: “Này chư tỳ kheo,
các ngươi chớ nói như vậy. Bây giờ Vaṅgīsa đã rành mạch
trong việc sanh và tử rồi, không còn phải học tập gì
nữa”. Nói xong, Thế Tôn đã thuyết lên hai bài kệ nầy:
Cutiṃ yo vedi sattānaṃ…v.v…tamahaṃ brūmi brāhmaṇan’ ti.
Dứt pháp thoại, có nhiều vị tỳ
kheo đắc chứng thánh quả.
Lý giải:
Duyên sự nầy đức Phật thuyết hai
bài kệ.
Bài kệ thứ nhất, đức Phật xác
chứng quả vị A la hán của trưởng lão Vaṅgīsa.
Ta gọi vị ấy là bà la môn (taṃ
ahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ), nghĩa là Ngài gọi một người hoàn
toàn hiểu rõ sự sanh tử của các loài hữu tình do trí giác, không phải
do chú thuật hay suy đoán cảnh giới tái
sanh
của người chết, đó là cái biết của bậc đã chứng ngộ.
Người ấy, đức Phật gọi là vị Bà la môn lậu tận.
Lại nữa, vị Lậu tận ấy là bậc vô
nhiễm, không dính mắc, không dùng sự hiểu biết sanh thú
của người chết mà trục lợi.
Vị A la hán là người có hành
trình tốt đẹp, đã đạt đến cứu cánh tốt đẹp là níp bàn.
Vị A la hán là vị đã giác ngộ
bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo.
Một người như trưởng lão Vaṅgīsa
bây giờ, hoàn toàn hiểu rõ sự sanh và tử của loài hửu
tình, không còn dính mắc danh lợi, đã hoàn tất cuộc hành
trình, đã giác ngộ tứ đế, đức Phật gọi vị ấy đích thực
là vị Bà la môn.
Bài kệ thứ hai trong duyên sự
nầy, đức Phật nói đến một vị A la hán vô dư y níp bàn,
không để lại dấu vết tái sanh, không ai tìm được sanh
thú của vị A la hán vô dư y níp bàn.
Đó là vị đã đoạn tận lậu hoặc
(Khīṇāsavaṃ), vị đã bẻ gãy căm bánh xe luân hồi
(arahantaṃ).
Một người như vậy, đức Phật gọi
là Bà la môn đích thực.
Biên soạn giáo trình:
Tỳ kheo Tuệ Siêu.
@@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |