|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 16 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 398. BẬC NGỘ ĐẠO - Kinh Udaka (Udakasuttaṃ). ******
Trong cảnh giới của tâm thức có
hai cao điểm là tâm giải thoát
và tuệ giải thoát. Khi tâm tới
đỉnh điểm phi tưởng phi phi
tưởng là tầng tối thượng của tâm
giải thoát. Tuy vậy không thể
nhầm lẫn tâm giải thoát với tuệ
giải thoát. Đức Phật dậy “Ai
hiểu rõ sự thật về sanh khởi,
hoại diệt, vị ngọt, hiểm họa và
cách vượt thoát đối với sáu xúc
xứ, thì vị tỳ khưu ấy là bậc
giác ngộ”. Vai trò của tuệ giác
là tất yếu trong hành trình vượt
thoát khổ đau.
Kinh Văn
103. “udako {uddako (sī. pī.)}
sudaṃ, bhikkhave, rāmaputto evaṃ
vācaṃ bhāsati — ‘idaṃ jātu
vedagū, idaṃ jātu sabbajī
{sabbaji (pī.)}, idaṃ jātu
apalikhataṃ gaṇḍamūlaṃ
palikhaṇin’ti. taṃ kho panetaṃ,
bhikkhave, udako rāmaputto
avedagūyeva samāno ‘vedagūsmī’ti
bhāsati, asabbajīyeva samāno
‘sabbajīsmī’ti bhāsati,
apalikhataṃyeva gaṇḍamūlaṃ
palikhataṃ me ‘gaṇḍamūlan’ti
bhāsati. idha kho taṃ,
bhikkhave, bhikkhu sammā
vadamāno vadeyya — ‘idaṃ jātu
vedagū, idaṃ jātu sabbajī, idaṃ
jātu apalikhataṃ gaṇḍamūlaṃ
palikhaṇin’”ti.
“kathañca, bhikkhave,
vedagū hoti? yato kho,
bhikkhave, bhikkhu channaṃ
phassāyatanānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca
ādīnavañca nissaraṇañca
yathābhūtaṃ pajānāti; evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhu vedagū hoti.
“kathañca, bhikkhave, bhikkhu
sabbajī hoti? yato kho,
bhikkhave, bhikkhu channaṃ
phassāyatanānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca
ādīnavañca nissaraṇañca
yathābhūtaṃ viditvā
anupādāvimutto hoti; evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhu sabbajī hoti.
“kathañca, bhikkhave, bhikkhuno
apalikhataṃ gaṇḍamūlaṃ
palikhataṃ hoti? gaṇḍoti kho,
bhikkhave, imassetaṃ
cātumahābhūtikassa kāyassa
adhivacanaṃ
mātāpettikasambhavassa
odanakummāsūpacayassa
aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammassa.
gaṇḍamūlanti kho, bhikkhave,
taṇhāyetaṃ adhivacanaṃ. yato
kho, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā
pahīnā hoti ucchinnamūlā
tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā
āyatiṃ anuppādadhammā; evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhuno apalikhataṃ
gaṇḍamūlaṃ palikhataṃ hoti.
“udako sudaṃ, bhikkhave,
rāmaputto evaṃ vācaṃ bhāsati —
‘idaṃ jātu vedagū, idaṃ jātu
sabbajī, idaṃ jātu apalikhataṃ
gaṇḍamūlaṃ palikhaṇin’ti. taṃ
kho panetaṃ, bhikkhave, udako
rāmaputto avedagūyeva samāno
‘vedagūsmī’ti bhāsati,
asabbajīyeva samāno
‘sabbajīsmī’ti bhāsati;
apalikhataṃyeva gaṇḍamūlaṃ
‘palikhataṃ me gaṇḍamūlan’ti
bhāsati. idha kho taṃ,
bhikkhave, bhikkhu sammā
vadamāno vadeyya — ‘idaṃ jātu
vedagū, idaṃ jātu sabbajī, idaṃ
jātu apalikhataṃ gaṇḍamūlaṃ
palikhaṇin’”ti. dasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, Uddaka
Rāmaputta thường tuyên bố như
sau:
Ta là bậc giác ngộ;
Này chư Tỳ khưu, mặc dù Uddaka
Rāmaputta tự thân không phải là
bậc giác ngộ, vị ấy lại tuyên
bố: ‘Ta là bậc giác ngộ.’ Mặc dù
vị ấy không phải là bậc nhất
thiết thắng giả, nhưng lại tuyên
bố: ‘Ta là bậc chiến thắng tất
cả.’ Mặc dù vị ấy chưa từng nhổ
tận gốc cái ung nhọt ấy, ông ta
lại tuyên bố: ‘Ta đã nhổ tận gốc
ung nhọt.’ Nhưng ở đây, này chư
Tỳ khưu, một vị Tỷ-kheo nói đúng
sự thật có thể tuyên bố:Ta là
bậc giác ngộ; bậc chiến thắng
tất cả; người đã lấy tận gốc ung
nhọt chưa từng diệt!’
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là
một vị bậc giác ngộ? Khi một tỳ
khưu hiểu rõ sự thật về sanh
khởi, hoại diệt, vị ngọt, hiểm
họa và cách vượt thoát đối với
sáu xúc xứ, thì vị
tỳ khưu
ấy là bậc giác ngộ.
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là
một vị tỳ khưu là bậc chiến
thắng tất cả? Khi một tỳ khưu
hiểu rõ sự thật về sanh khởi,
hoại diệt, vị ngọt, hiểm họa và
cách vượt thoát đối với sáu xúc
xứ, và vị ấy được giải thoát nhờ
không chấp thủ, thì vị ấy là bậc
chiến thắng tất cả.
Và này chư Tỳ khưu, thế nào là
một vị tỳ khưu là người đã lấy
tận gốc ung nhọt chưa từng diệt?
‘Cái ung nhọt’, này chư Tỳ khưu,
là một tên gọi để chỉ thân này
gồm bốn đại chủng, được sinh ra
từ mẹ và cha, lớn lên nhờ cơm
cháo, bị chi phối bởi vô thường,
bởi ma sát và áp lực, bởi sự tan
vỡ và phân huỷ. ‘Cội rễ của ung
nhọt’: đây là tên gọi của ái
dục. Khi một tỳ khưu đã từ bỏ ái
dục, chặt đứt từ gốc, làm cho
như thân cây thốt nốt bị chặt,
tiêu diệt hoàn toàn đến mức
không còn khởi sinh về sau, thì
trong trường hợp ấy vị tỳ khưu
đã nhổ tận gốc cái ung nhọt chưa
từng bị nhổ trước đây.
Này chư Tỳ khưu, mặc dù Uddaka
Rāmaputta tự thân không phải là
bậc giác ngộ, vị ấy lại tuyên
bố: ‘Ta là bậc giác ngộ.’ Mặc dù
vị ấy không phải là bậc nhất
thiết thắng giả, nhưng lại tuyên
bố: ‘Ta là bậc chiến thắng tất
cả.’ Mặc dù vị ấy chưa từng nhổ
tận gốc cái ung nhọt ấy, ông ta
lại tuyên bố: ‘Ta đã nhổ tận gốc
ung nhọt.’ Nhưng ở đây, này chư
Tỳ khưu, một vị Tỷ-kheo nói đúng
sự thật có thể tuyên bố:Ta là
bậc giác ngộ; bậc chiến thắng
tất cả; người đã lấy tận gốc ung
nhọt chưa từng diệt!’
Chú Thích
Uddaka Rāmaputta là vị đạo sư
thứ hai của Đức Phật trong thời
kỳ Ngài đang tìm cầu giác ngộ
sau khi rời bỏ vương vị; vị nầy
chứng đắc tầng thiền cao nhất là
phi tưởng phi phi tưởng. xem
Trung Bộ Kinh, tập I, Kinh Thánh
Cầu. Trong bản tuyên bố, đại từ
"idam" (nghĩa là “này”, “đây”)
xuất hiện ba lần nhưng đối tượng
mà nó chỉ định thì không rõ
ràng. Sớ Giải cho rằng đây chỉ
là một bất biến từ (nippaccaya),
nhưng cũng thêm rằng nó có thể
đại diện cho “lời tuyên bố này”
(idaṃ vacana). Có lẽ nó nên được
liên hệ với gandamūla (“gốc của
ung nhọt”), mặc dù điều này vẫn
chưa chắc chắn.
Vedagū - bậc giác ngộ, bậc tuệ
minh - là một danh hiệu phổ biến
trong truyền thống Bà-la-môn,
nhưng đã được Đức Phật sử dụng
để mô tả bậc A-la-hán.
Sabbajī, “bậc nhất thiết giả hay
bậc chiến thắng tất cả,” được
chú giải là “người đã hoàn toàn
chiến thắng và vượt qua toàn bộ
vòng luân hồi (samsāra).”
Cách nói về xác thân: Này chư Tỳ
khưu, ‘Cái ung nhọt’ là tên gọi
để chỉ thân này gồm bốn đại
chủng, được sinh ra từ mẹ và
cha, lớn lên nhờ cơm cháo, bị
chi phối bởi vô thường, bởi ma
sát và áp lực, bởi sự tan vỡ và
phân huỷ ‘.
Sớ Giải
103. dasame udako sudanti ettha
sudanti nipātamattaṃ. udakoti
tassa nāmaṃ. idaṃ jātu vedagūti
ettha idanti nipātamattaṃ. atha
vā idaṃ mama vacanaṃ suṇāthāti
dīpento evamāha. jātu vedagūti
ahaṃ ekaṃseneva vedagū,
vedasaṅkhātena ñāṇena neyyesu
gato, vedaṃ vā gato adhigato,
paṇḍitohamasmīti attho.
sabbajīti ekaṃsena sabbavaṭṭaṃ
jinitvā abhibhavitvā ṭhitosmīti
vadati. apalikhataṃ gaṇḍamūlanti
apalikhataṃ dukkhamūlaṃ.
palikhaṇinti palikhataṃ mayā,
khanitvā ṭhitosmīti dīpeti.
mātāpettikasambhavassāti mātito
ca pitito ca nibbattena
mātāpettikena sukkasoṇitena
sambhūtassa.
odanakummāsūpacayassāti odanena
ceva kummāsena ca upacitassa
vaḍḍhitassa.
aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammassāti
ettha ayaṃ kāyo hutvā
abhāvaṭṭhena aniccadhammo,
duggandhavighātatthāya
tanuvilepanena ucchādanadhammo,
aṅgapaccaṅgābādhavinodanatthāya
khuddakasambāhanena
parimaddanadhammo, daharakāle vā
ūrūsu sayāpetvā gabbhavāsena
dussaṇṭhitānaṃ tesaṃ tesaṃ
aṅgānaṃ saṇṭhānasampādanatthaṃ
añchanapīḷanādīnaṃ vasena
parimaddanadhammo, evaṃ
pariharitopi ca
bhedanaviddhaṃsanadhammo
bhijjati ceva vikirati ca, evaṃ
sabhāvoti attho.
tattha
mātāpettikasambhavaodanakummāsūpacayaparimaddanapadehi
vaḍḍhi kathitā,
aniccabhedanaviddhaṃsanapadehi
parihāni. purimehi vā tīhi
samudayo, pacchimehi
atthaṅgamoti. evaṃ
cātumahābhūtikassa kāyassa
vaḍḍhiparihāninibbattibhedā
dassitā. sesaṃ uttānatthamevāti.
103. Trong bài thứ mười
(dasame), "udako sudanti":Ở
đây, từ “sudanti” chỉ là một
trợ từ (nipāta-mattaṃ),
không mang ý nghĩa chính.
“Udako” là tên riêng của
người ấy (tức Uddaka
Rāmaputta).
“Idaṃ jātu vedagū”:Từ “idaṃ”
cũng chỉ là một bất biến từ,
không có chỉ định cụ
thể.Hoặc có thể hiểu theo
cách: "Hãy lắng nghe lời
tuyên bố của ta", nên nói
rằng: “Idaṃ mama vacanaṃ
suṇātha” – “Hãy lắng nghe
lời của ta”.
“Jātu vedagū” câu này có
nghĩa là: “Ta, chắc chắn là
bậc Vedagū”.Ý là: Ta là
người đã đạt được trí tuệ
(ñāṇa), được gọi là “Veda”;
hoặc ta đã đạt được sự hiểu
biết, đã thông suốt các pháp
nên được gọi là “bậc trí giả
(paṇḍita)”.
“Sabbajī” Có nghĩa là: “Ta
đã hoàn toàn chiến thắng
toàn bộ vòng luân hồi
(sabbavaṭṭaṃ), đã vượt lên
trên nó, nên ta đứng vững
với sự chiến thắng ấy”.
“Apalikhataṃ gaṇḍamūlaṃ”. Có
nghĩa là: “Ta đã nhổ tận gốc
khổ đau (dukkhamūlaṃ)”. Từ
“palikhaṇi” (đào xới) được
hiểu là: “Palikhataṃ mayā” –
tức “đã được ta đào bới lên,
và nay ta đã đứng vững sau
khi nhổ bỏ nó tận gốc”.
Về thân thể:
“Mātāpettikasambhavassa” –
tức thân thể này được sinh
ra từ cha mẹ, hình thành từ
tinh cha huyết mẹ
(sukkasoṇita).
“Odanakummāsūpacayassa” –
nghĩa là: được nuôi lớn bởi
cơm (odana) và cháo
(kummāsa).
“Aniccu…
viddhaṃsanadhammassa” – là
thân thể này có bản chất như
sau: “Anicca-dhammo”: có
tính vô thường, vì sinh rồi
sẽ diệt. “Ucchādana-dhammo”:
là vật được xoa thoa bằng
dầu thơm, phấn hương để khử
mùi hôi.
“Parimaddana-dhammo”: cần
xoa bóp để xoa dịu đau nhức
nơi tứ chi. Dù được chăm sóc
như vậy, thân này vẫn mang
bản chất phải bị tan rã và
tiêu hoại – tức
“bhedana-viddhaṃsana-dhammo”:
bị vỡ nát và phân huỷ.
Nói chung, các từ
mātāpettika-sambhava,
odana-kummāsa-upacaya, và
parimaddana nói về sự tăng
trưởng (vaḍḍhi) của thân.
Các từ anicca, bhedana, và
viddhaṃsana nói về sự suy
tàn và hoại diệt (parihāni).
Ba phần đầu là nguyên nhân
sinh khởi (samudaya); ba
phần sau là sự chấm dứt
(atthaṅgama). Như vậy, đoạn
này mô tả rõ về sự sinh
khởi, lớn lên, suy tàn và
hoại diệt của thân thể được
cấu thành từ tứ đại
(cātumahābhūtika).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
103. X. Uddaka (S.iv,83)
1) ...
2) -- Uddaka Ràmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:
"Ta là bậc minh trí,
Này các Tỷ-kheo, Uddaka Ràmaputta không phải bậc minh
trí, lại tự nói: "Ta là bậc minh trí"; không chiến thắng
tất cả, lại nói: "Ta chiến thắng tất cả"; không đào lên
khổ căn, lại nói: "Ðã đào lên khổ căn".
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân
chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí
(vedagù)? Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với
sáu xúc xứ như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo minh trí.
5) Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến
thắng tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với
sáu xúc xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự
đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được
giải thoát không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo,
là Tỷ-kheo chiến thắng tất cả.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ
căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo,
là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành
này, sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh
là vô thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt.
Gốc rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát
ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm
cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong
tương lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào
lên khổ căn từ trước chưa được đào lên.
7) Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Ràmaputta đã nói lên
lời nói như sau:
Ta là bậc minh trí,
Này các Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại
tự nói: "Ta là bậc minh trí"; không chiến thắng tất cả,
lại nói: "Ta chiến thắng tất cả"; không đào lên khổ căn,
lại nói: "Ðã đào lên khổ căn".
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân
chánh, có thể nói như sau:
Ta là bậc minh trí, |