|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 19 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 399. ĐẠO GIẢI THOÁT - Kinh Bình An Thoát Khổ Ách (Yogakkhemisuttaṃ). ******
Khổ đau được ví như cái ách đè nặng, trói buộc chúng
sanh. Con đường thoát khổ là
nhận ra bản chất thật của những
gì trá hình dưới dạng hạnh phúc.
Sáu cảnh khả ái của sáu giác
quan nếu không được nhận rõ bản
chất thì mãi đeo mang. Đức Phật
đã thật sự đạt đến cảnh giới
hoàn toàn giải thoát và cũng bậc
tuyên thuyết con đường thoát khổ
cứu độ quần sanh. Không buông xả
được với vị ngọt của trần cảnh
có nghĩa là không nhận thức được
hiểm nạn và con đường vượt
thoát.
Kinh Văn
104. sāvatthinidānaṃ. “yogakkhemipariyāyaṃ vo, bhikkhave,
dhammapariyāyaṃ desessāmi. taṃ
suṇātha. katamo ca, bhikkhave,
yogakkhemipariyāyo
dhammapariyāyo? santi,
bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā
iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā
kāmūpasaṃhitā rajanīyā. te
tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā
tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā
āyatiṃ anuppādadhammā. tesañca
pahānāya akkhāsi yogaṃ, tasmā
tathāgato ‘yogakkhemī’ti vuccati
... pe ... santi, bhikkhave,
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. te tathāgatassa pahīnā
ucchinnamūlā tālāvatthukatā
anabhāvaṅkatā āyatiṃ
anuppādadhammā. tesañca pahānāya
akkhāsi yogaṃ, tasmā tathāgato
‘yogakkhemī’ti vuccati. ayaṃ
kho, bhikkhave,
yogakkhemipariyāyo
dhammapariyāyo”ti. paṭhamaṃ.“
Tại Sāvatthī.
[Đức Thế Tôn dạy:]
“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ nói pháp thoại chủ đề ‘người tuyên bố sự tinh tấn
nhằm đạt đến giải thoát khổ
ách.’ Hãy lắng nghe …"
“Này chư Tỳ khưu, thế nào là pháp thoại chủ đề ‘người tuyên bố sự tinh tấn
nhằm đạt đến giải thoát khổ
ách’’?
Này chư Tỳ khưu, có những sắc do mắt nhận biết, đáng yêu, dễ chịu, hấp
dẫn, vừa lòng, lôi cuốn giác
quan, mê hoặc tâm trí. Những sắc
ấy đã được Như Lai từ bỏ, chặt
tận gốc, nhổ lên như gốc cây
thốt nốt, tiêu diệt hoàn toàn,
không còn phát sanh trong tương
lai nữa. Ngài tuyên bố rằng cần
phải tinh tấn để từ bỏ những đối
tượng ấy.Vì vậy, Như Lai được
gọi là ‘người tuyên bố sự tinh
tấn để giải thoát khổ ách.’
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có những tiếng do tai nhận biết … pháp trần do
ý nhận biết — đáng yêu, dễ chịu,
hấp dẫn, vừa lòng, lôi cuốn giác
quan, mê hoặc tâm trí. Những
pháp ấy đã được Như Lai từ bỏ,
chặt tận gốc, nhổ lên như gốc
cây thốt nốt, tiêu diệt hoàn
toàn, không còn phát sanh trong
tương lai nữa.
Ngài tuyên bố rằng cần phải tinh tấn để từ bỏ những đối tượng ấy.
Vì vậy, Như Lai được gọi là ‘người tuyên bố sự tinh tấn để giải thoát khỏi
khổ ách.’
“Này chư Tỳ khưu pháp thoại chủ đề “người tuyên bố sự tinh tấn nhằm đạt
đến giải thoát khổ ách”
Chú Thích
Yogakkhema thường được xem là đồng nghĩa với A-la-hán quả (arahantship)
hoặc Niết-bàn (Nibbāna), được
các vị chú giải giảng nghĩa là
sự an ổn hay giải thoát khỏi bốn
ách phược (yoga), bao gồm:
1.
dục tham (kāmayoga)
2.
ái hữu (bhavayoga)
3.
vô minh (avijjāyoga)
4.
tà kiến (diṭṭhiyoga)
Ngài Bodhi có chú thích về tính cách “chơi chữ” trong “Yogakkhemī” như
sau:
Ở đây có một lối chơi chữ (pun) rất tinh tế trong tiếng Pāli, khó mà
chuyển ngữ trọn vẹn sang các
ngôn ngữ khác.
Về mặt ngữ pháp, “Yogakkhemī” là hình thức cá nhân hóa (tính từ) của danh
từ trừu tượng “Yogakkhema”,
nghĩa là “người an ổn, thoát
khỏi trói buộc”.
Tuy nhiên, chữ “yoga” trong Pāli ngoài nghĩa là “trói buộc” cũng có nghĩa
thứ hai là “nỗ lực, sự tinh tấn”
– điều này kết nối với câu trong
kinh:
“tesañ ca pahānāya akkhāsi yogaṃ” — “Ngài đã chỉ dạy sự tinh tấn để đoạn
trừ chúng.”
Về âm thanh, động từ “akkhāsi” (đã dạy, đã chỉ ra) nghe gần giống với gốc
“khema” (an ổn), dù chúng không
có liên hệ từ nguyên với nhau.
Như vậy, từ “Yogakkhemī” có thể được hiểu theo hai cách:
Ý nghĩa thật: “Người đã giải thoát khỏi trói buộc” (người đạt đến
Niết-bàn)
Ý nghĩa ẩn dụ (chơi chữ): “Người tuyên bố (giảng dạy) về nỗ lực tinh tấn”
Tuy nhiên, theo Sớ Giải (Sāratthappakāsinī) thì:
Một người được gọi là yogakkhemī, không chỉ vì người ấy “tuyên bố nỗ lực”,
mà vì người ấy đã từ bỏ hoàn
toàn dục và tham ái.
Sớ Giải
104.
yogakkhemivaggassa paṭhame
yogakkhemipariyāyanti catūhi
yogehi khemino kāraṇabhūtaṃ.
dhammapariyāyanti dhammakāraṇaṃ.
akkhāsi yoganti yuttiṃ kathesi.
tasmāti kasmā? kiṃ akkhātattā,
udāhu pahīnattāti? pahīnattā. na
hi akkhānena yogakkhemi nāma
hoti.
104. Trong bài kinh đầu của Phẩm Yogakkhemi:
“Yogakkhemipariyāya” có nghĩa là:
Là pháp dẫn đến sự an ổn khỏi các trói buộc (giải thoát khỏi bốn loại ách
phược – (yoga), tức là nền
tảng dẫn đến trạng thái
"không còn bị trói buộc"
(khemino).
“Dhammapariyāya” là pháp thoại được
thuyết giảng nhằm làm sáng
tỏ lý do hoặc nguyên nhân
(kāraṇa) của các pháp.
“Akkhāsi yoga” có nghĩa là: Đức Phật trình bày rõ (kathesi) con đường hay
sự hợp lý (yutti) dẫn đến
việc đoạn tận các trói buộc.
“Tasmā ti kasmā?” — “Vì vậy, tại sao?”. Câu hỏi được đặt ra:
Có phải vì Ngài thuyết giảng (akkhātattā) nên được gọi là bậc an ổn khỏi
trói buộc? Hay là vì Ngài đã
đoạn tận các trói buộc
(pahīnattā)? Trả lời: Là vì Ngài đã đoạn tận (pahīnattā) khổ ách. Bởi vì, chỉ nhờ sự thuyết giảng (akkhāna) thôi thì không thể trở thành bậc giải thoát khỏi khổ ách (yogakkhemi).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba
I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách
104. I. Người Ðược An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách (S.iv,85)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn
đưa đến an ổn, khỏi các khổ ách, pháp môn đúng pháp. Hãy
lắng nghe.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn đưa đến an
ổn, khỏi các khổ ách?
4-8) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận biết khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Những sắc ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc
rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái
sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận
chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được
gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách... có những
tiếng... có những hương... có những vị... có những
xúc...
9) Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận biết khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Những pháp ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt từ gốc
rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái
sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Ðể đoạn tận
chúng, Như Lai tuyên bố cái ách. Do vậy, Như Lai được
gọi là vị đã được an ổn, khỏi các khổ ách.
10) Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn đưa đến an ổn, khỏi
các khổ ách, là pháp môn đúng pháp. |