|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 22 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 400. VUI KHỔ CHỦ QUAN- Kinh Do Chấp Thủ (Upādāyasuttaṃ). ******
Theo Phật Pháp, sự khổ đau của
chúng sanh gồm cả hai phuơng
diện là bản chất tự nhiên hay
tác động khách quan (thí dụ như
trời nóng noi bức) và phản ứng
hay tác động chủ quan (như thái
độ không chấp nhận đó là điều
không thể tránh do mùa tiết). Xa
hơn nữa là chính chấp thủ khuếch
tán khổ vui – mà thường là khổ
nhiều hơn vui. Có một mấu chốt
của hành giả tu tập đối với
thuận, nghịch ở đời là “đừng làm
lớn chuyện một cách không cần
thiết”. Ở điểm nầy có thể nhận
ra sự liên đới rõ ràng giữa khả
năng buông xả và tuệ giác.
Kinh Văn “bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā ... pe .... “cakkhusmiṃ kho, bhikkhave, sati cakkhuṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhaṃ ... pe ... manasmiṃ sati manaṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhaṃ. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ bhante” ... pe .... “jivhā niccā vā aniccā vā”ti? “aniccā, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante” ... pe .... “mano nicco vā anicco vā”ti? “anicco, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati ... pe ... manasmimpi nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. dutiyaṃ.
Tại Sāvatthī.
“Này này chư Tỳ khưu, khi cái
hiện hữu, do chấp thủ vào cái gì
mà khổ và lạc
khởi lên ở nội tâm?”
“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con
giáo pháp bắt nguồn từ Đức Thế
Tôn…”
“Này này chư Tỳ khưu, khi con
mắt hiện hữu, do chấp thủ vào
con mắt, khổ và lạc khởi lên ở
nội tâm. Khi tai hiện hữu… ý
hiện hữu, do chấp thủ vào ý khổ
thọ và lạc thọ khởi lên ở nội
tâm.
“Các Thầy nghĩ sao, này chư Tỳ
khưu, con mắt là thường hay vô
thường?”
“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Cái gì là vô thường thì là khổ
hay lạc?”
“Là khổ, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng nếu không chấp thủ vào
cái vô thường, khổ, và chịu sự
biến hoại, thì khổ và thọ có thể
khởi lên ở nội tâm không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Tai… Ý là thường hay vô
thường?... Nhưng nếu không chấp
thủ vào cái vô thường, khổ, và
chịu sự biến hoại, thì khổ và
lạc có thể khởi lên ở nội tâm
không?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Thấy được như vậy, này này chư
Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử đã được
học phát khởi nhàm chán đối với
con mắt… đối với ý. Khi phát
khởi nhàm chán, vị ấy ly tham.
Do ly tham, tâm được giải thoát.
Khi tâm được giải thoát, vị ấy
biết: ‘Tâm đã được giải thoát.’
Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.’”
Chú Thích
Theo Sớ Giải có ba phạm của khổ
là khổ quả dị thục (vipāka), khổ
tất yếu phải có của luân hồi khổ
(vaṭṭadukkha), khổ do bản chất
cố hữu của các hành , đó là thế
giới hữu vi (saṅkhāraloka).
Theo Sớ Giải vui khổ ở đây thuộc
về cảm thọ và cảm thọ vui khổ
nầy thuộc quả dị thục của nghiệp
quá khứ. Như vậy bài kinh phải
được hiểu theo “duyên sinh”: thủ
sanh hữu, hữu duyên sanh, sanh
duyên già chết, sầu, bi khổ, ưu,
ai.
Ở đây nên hiểu khổ, lạc ban đầu
là quả dị thục của nghiệp nhưng
khổ lạc sau nầy do chấp thủ mà
ra nằm trong ý nghĩa “vui khổ
nội tại - ajjhattaṃ sukhaṃ
dukkhan”
Do không thấy được bản chất vô
thường, khổ não, vô ngã của sáu
nội xứ và sáu ngoại xứ nên chấp
thủ sai lai. Từ đó tác động sanh
khởi của muôn ngàn hệ luỵ.
Sớ Giải
105-113. dutiye
vedanāsukhadukkhaṃ
kathitaṃ,
taṃ
pana vipākasukhadukkhaṃ
vaṭṭati.
tatiye dukkhassāti vaṭṭadukkhassa.
catutthe lokassāti saṅkhāralokassa.
pañcamādīsu yaṃ
vattabbaṃ
siyā, taṃ
khandhiyavagge vuttanayameva.
105–113.
Trong bài thứ hai (mục 106), nói
về lạc thọ và khổ thọ, điều ấy
có thể được hiểu là lạc thọ và
khổ thọ thuộc về quả dị thục
(vipāka).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách
105. II. Chấp Thủ (S.iv,85)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái
gì khởi lên nội lạc, nội khổ?
3) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế
Tôn làm căn bản...
4) -- Này các Tỷ-kheo, do mắt có mặt, do chấp thủ mắt
nên khởi lên nội lạc, nội khổ... tai... mũi... lưỡi...
thân... Do ý có mặt, do chấp thủ ý nên khởi lên nội lạc,
nội khổ.
5) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường
hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy thời có thể khởi lên nội khổ, nội lạc
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
6) -- Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử
nhàm chán đối với mắt... nhàm chán đối với ý. Do nhàm
chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải
thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta
đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa". |