|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 23 tháng 04, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 401. VƯỢT KHỎI Ý NIỆM HƠN THUA - Kinh “Ta Hơn Người” (Seyyohamasmisuttaṃ). Hai bài kinh SN.35.106 Dukkhasamudayasuttaṃ (Tập Khởi Của Khổ Đau) và SN.35.107 Lokasamudayasuttaṃ (Tập Khởi Của Thế Giới) trùng lập với hai bài kinh số 44 và 45 trong Phẩm Tương Ưng Uẩn. ******
Phật
pháp dạy rằng dù tự tôn, tự thị,
tự ti đều bắt nguồn từ ảo tưởng
ngã chấp. Khi một người có đủ
sáng suốt để thấy sự vô nghĩa
của sự so sánh “quả cam với quả
tá”" thì không bận lòng với
chuyện hơn thua ở đời. Không
phải chỉ có kiêu căng mới là
“mạn” mà tât cà sự so đo giữa cá
nhân với cá nhân hay tất cả chấp
thủ nhân ngã bỉ thử đều là tập
táp phiền não nhiều đời. Chỉ là
phiền não không hơn không kém.
Kinh Văn “bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā ... pe .... “cakkhusmiṃ kho, bhikkhave, sati cakkhuṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhaṃ ... pe ... manasmiṃ sati manaṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhaṃ. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ bhante” ... pe .... “jivhā niccā vā aniccā vā”ti? “aniccā, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante” ... pe .... “mano nicco vā anicco vā”ti? “anicco, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhaṃ dukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati ... pe ... manasmimpi nibbindati. nibbindaṃ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī”ti. dutiyaṃ.
“Này này chư Tỳ khưu, khi cái
hiện hữu, do chấp thủ vào cái gì
mà khởi lên ý nghĩ: ‘Ta hơn,’
‘Ta bằng,’ hay ‘Ta thua’?”
“Bạch Thế Tôn, đối với chúng con
giáo pháp bắt nguồn từ Đức Thế
Tôn…”
“Này này chư Tỳ khưu, khi con
mắt hiện hữu, do chấp thủ vào
con mắt, khổ và lạc khởi lên ở
nội tâm. Khi tai hiện hữu… ý
hiện hữu, do chấp thủ vào ý mà
khởi lên ý nghĩ: ‘Ta hơn,’ ‘Ta
bằng,’ hay ‘Ta thua’?”
“Các Thầy nghĩ sao, này chư Tỳ
khưu, con mắt là thường hay vô
thường?”
“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Cái gì là vô thường thì là khổ
hay lạc?”
“Là khổ, bạch Thế Tôn.”
“Nhưng nếu không chấp thủ vào
cái vô thường, khổ, và chịu sự
biến hoại, thì có khởi lên ý
nghĩ: ‘Ta hơn,’ ‘Ta bằng,’ hay
‘Ta thua’?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Tai… Ý là thường hay vô
thường?... Nhưng nếu không chấp
thủ vào cái vô thường, khổ, và
chịu sự biến hoại, thì có khởi
lên ý nghĩ: ‘Ta hơn,’ ‘Ta bằng,’
hay ‘Ta thua’?”
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Thấy được như vậy, này này chư
Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử đã được
học phát khởi nhàm chán đối với
con mắt… đối với ý. Khi phát
khởi nhàm chán, vị ấy ly tham.
Do ly tham, tâm được giải thoát.
Khi tâm được giải thoát, vị ấy
biết: ‘Tâm đã được giải thoát.’
Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.’”
Chú Thích
Theo Phật học thì tất cả ý niệm
tự cao, tự thị, tự ti đều là mạn
chấp, một thứ phiền não ăn sâu
trong tâm khảm nhiều đời của
chúng sanh.
Mạn chấp thuộc thượng phần kiết
sử mà chỉ đạo quả A la hán mới
đọan tận.
Theo Thắng Pháp Abhidhamma thì
mặc dù mạn chấp liên quan tới ảo
giác về bản thân nhưng không
phải là tà kiến như thân kiến.
Điểm nầy cần được đặc biệt lưu
ý.
Một cách đoạn trừ mạn chấp là
nhìn vào bản chất vô thường của
sáu giác quan. Tất cả hiện hữu
chỉ là hiện tượng sanh diệt.
Sớ Giải
105-113. dutiye
vedanāsukhadukkhaṃ kathitaṃ, taṃ
pana vipākasukhadukkhaṃ vaṭṭati.
tatiye dukkhassāti
vaṭṭadukkhassa. catutthe
lokassāti saṅkhāralokassa.
pañcamādīsu yaṃ vattabbaṃ siyā,
taṃ khandhiyavagge
vuttanayameva.
105–113.
Trong bài thứ hai (mục 106), nói
về lạc thọ và khổ thọ, điều ấy
có thể được hiểu là lạc thọ và
khổ thọ thuộc về quả dị thục
(vipāka).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách
108. V. Thắng (S.
iv,88)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái gì,
do thiên chấp cái gì nên có: "Thắng hơn là tôi", "Ngang
bằng là tôi" hay "Thấp kém là tôi"?
3) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế
Tôn làm căn bản...
4-9) -- Này các Tỷ-kheo, do có mắt, do chấp thủ mắt, do
thiên chấp mắt nên có: "Thắng hơn là tôi", "Ngang bằng
là tôi" hay "Thấp kém là tôi"... Do có ý, do chấp thủ ý,
do thiên chấp ý nên có: "Thắng hơn là tôi", "Ngang bằng
là tôi" hay "Thấp kém là tôi".
10) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, mắt là thường
hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái vì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: "Thắng hơn là
tôi", "Ngang bằng là tôi", hay "Thấp kém là tôi" không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
11) -- Tai là thường hay vô thường...
12) Mũi là thường hay vô thường...
13) Lưỡi là thường hay vô thường...
14) Thân là thường hay vô thường...
15) Ý là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy, thời (có thể) có ý nghĩ: "Thắng hơn là
tôi", "Ngang bằng là tôi" hay "Thấp kém là tôi" không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
16) -- Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử
nhàm chán đối với mắt... nhàm chán đối với ý. Do nhàm
chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải
thoát... "... không còn trở lui trạng thái này nữa". -ooOoo- |