BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 02 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 51. Tương Ưng Thần Túc-Phẩm Chấn Động Ngôi Đền - SN 51.11-
Bài 639. THẦN TÚC VÀ THẦN THÔNG -

Kinh Trước (Khi Giác Ngộ) (Pubbasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-639.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trước khi thành đạo, có lúc  Đức Phật tự nêu lên  một câu hỏi rất giản dị—một câu hỏi của chính mình khi còn là Bồ-tát:“Điều gì là nguyên nhân đưa đến sức mạnh của tâm?” Và câu trả lời Ngài tìm thấy không phải là điều gì huyền bí, mà là một nghệ thuật rất tinh tế:không quá chùng, không quá căng. Một sợi dây đàn, nếu chùng quá—không phát ra âm thanh.Nếu căng quá—sẽ đứt. Tâm cũng vậy. Khi ta buông xuôi khiến tâm chìm xuống. Khi ta gắng sức quá khiến tâm căng thẳng, dao động. Chỉ khi ở mức trung dung, ở đúng điểm quân bình, tâm mới trở nên: sáng, rộng, và không bị che phủ.

Kinh Văn

823. sāvatthinidānaṃ. “pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi — ‘ko nu kho hetu, ko paccayo iddhipādabhāvanāyā’ti? tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi — ‘idha bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — iti me chando na ca atilīno bhavissati, na ca atippaggahito bhavissati, na ca ajjhattaṃ saṃkhitto bhavissati, na ca bahiddhā vikkhitto bhavissati. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ, yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti’”.
“vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — iti me vīriyaṃ na ca atilīnaṃ bhavissati, na ca atippaggahitaṃ bhavissati, na ca ajjhattaṃ saṃkhittaṃ bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittaṃ bhavissati.
pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ, yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. “cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — iti me cittaṃ na ca atilīnaṃ bhavissati, na ca atippaggahitaṃ bhavissati, na ca ajjhattaṃ saṃkhittaṃ bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittaṃ bhavissati. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ, yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti.
“vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — iti me vīmaṃsā na ca atilīnā bhavissati, na ca atippaggahitā bhavissati, na ca ajjhattaṃ saṃkhittā bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittā bhavissati. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ, yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti.
“evaṃ bhāvitesu kho, bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu, anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti — ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṃ, tirobhāvaṃ; tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne {abhijjamāno (sī. pī. ka.)} gacchati, seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parimasati {parāmasati (sī. syā. kaṃ.)} parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti. “evaṃ bhāvitesu kho, bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti — dibbe ca mānuse ca, dūre santike cāti.
“evaṃ bhāvitesu kho, bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu, parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti. sarāgaṃ vā cittaṃ ‘sarāgaṃ cittan’ti pajānāti; vītarāgaṃ vā cittaṃ ‘vītarāgaṃ cittan’ti pajānāti; sadosaṃ vā cittaṃ ‘sadosaṃ cittan’ti pajānāti; vītadosaṃ vā cittaṃ ‘vītadosaṃ cittan’ti pajānāti; samohaṃ vā cittaṃ ‘samohaṃ cittan’ti pajānāti; vītamohaṃ vā cittaṃ ‘vītamohaṃ cittan’ti pajānāti; saṃkhittaṃ vā cittaṃ ‘saṃkhittaṃ cittan’ti pajānāti; vikkhittaṃ vā cittaṃ ‘vikkhittaṃ cittan’ti pajānāti; mahaggataṃ vā cittaṃ ‘mahaggataṃ cittan’ti pajānāti; amahaggataṃ vā cittaṃ ‘amahaggataṃ cittan’ti pajānāti; sauttaraṃ vā cittaṃ ‘sauttaraṃ cittan’ti pajānāti; anuttaraṃ vā cittaṃ ‘anuttaraṃ cittan’ti pajānāti; samāhitaṃ vā cittaṃ ‘samāhitaṃ cittan’ti pajānāti; asamāhitaṃ vā cittaṃ ‘asamāhitaṃ cittan’ti pajānāti; vimuttaṃ vā cittaṃ ‘vimuttaṃ cittan’ti pajānāti; avimuttaṃ vā cittaṃ ‘avimuttaṃ cittan’ti pajānāti”.
“evaṃ bhāvitesu kho, bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu, anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ — ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe — ‘amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṃ {uppādiṃ (sī.)}; tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati.
“evaṃ bhāvitesu kho bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu, dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti — ‘ime vata, bhonto, sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā. ime vā pana, bhonto, sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā’ti. iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti.
“evaṃ bhāvitesu kho, bhikkhu, catūsu iddhipādesu evaṃ bahulīkatesu, āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti. paṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, Ta đã suy nghĩ như sau:‘Nguyên nhân và điều kiện nào đưa đến sự tu tập các thần túc (iddhipāda)?’

Rồi Ta suy nghĩ: ‘Ở đây, một hành giả tu tập thần túc dựa trên dục (chanda), có định do dục và các lực vận hành, với tư duy:

“Dục của ta sẽ không quá chùng, cũng không quá căng;
không bị co thắt nội tâm, cũng không bị tán loạn bên ngoài.”

Vị ấy an trú trong sự quán sát trước và sau:

“Như trước, thế nào sau cũng vậy;
như sau, thế nào trước cũng vậy;
như dưới, thế nào trên cũng vậy;
như trên, thế nào dưới cũng vậy;
như ban ngày, thế nào ban đêm cũng vậy;
như ban đêm, thế nào ban ngày cũng vậy.”

Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm sáng chói (pabhassara citta).

‘Vị ấy tu tập thần túc dựa trên tinh tấn (viriya), có định do tinh tấn và các lực vận hành, với tư duy:

“Tinh tấn của ta sẽ không quá chùng, cũng không quá căng;
không bị co thắt nội tâm, cũng không bị tán loạn bên ngoài.”

… (cũng quán như trên) …

Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm sáng chói.

‘Vị ấy tu tập thần túc dựa trên tâm (citta), có định do tâm và lực vận hành, với tư duy:

“Tâm của ta sẽ không quá chùng, cũng không quá căng;
không bị co thắt nội tâm, cũng không bị tán loạn bên ngoài.”

… (cũng quán như trên) …

Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm sáng chói.
‘Vị ấy tu tập thần túc dựa trên thẩm định (vīmaṃsā), có định do thẩm định và lực vận hành, với tư duy:

“Sự quán sát của ta sẽ không quá chùng, cũng không quá căng;
không bị co thắt nội tâm, cũng không bị tán loạn bên ngoài.”

… (cũng quán như trên) …

Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm sáng chói.
‘Khi bốn thần túc được tu tập và làm cho viên mãn như vậy, một hành giả có thể thực hiện nhiều loại thần thông:

  • từ một thân thành nhiều thân, từ nhiều thân trở lại một thân
  • hiện ra rồi biến mất
  • đi xuyên qua tường, thành lũy, núi non như đi trong hư không
  • lặn xuống đất như lặn trong nước
  • đi trên nước như đi trên đất
  • ngồi kiết già bay trong hư không như chim
  • dùng tay chạm và xoa mặt trăng, mặt trời
  • với thân này, đạt đến tự tại cho đến cõi Phạm thiên
    ‘Khi bốn thần túc được tu tập như vậy, một hành giả với thiên nhĩ (dibba-sota) thanh tịnh vượt người, nghe được:
  • âm thanh của chư thiên
  • âm thanh của loài người
  • xa cũng như gần
    ‘Khi bốn thần túc được tu tập như vậy, một Tỳ khưu biết được tâm của chúng sinh khác:
  • tâm có tham → biết là có tham
  • tâm không tham → biết là không tham
  • tâm có sân → biết là có sân
  • tâm không sân → biết là không sân
  • tâm có si → biết là có si
  • tâm không si → biết là không si
  • tâm co rút → biết là co rút
  • tâm tán loạn → biết là tán loạn
  • tâm cao thượng → biết là cao thượng
  • tâm không cao thượng → biết là không cao thượng
  • tâm có thể vượt → biết là có thể vượt
  • tâm không thể vượt → biết là không thể vượt
  • tâm định → biết là định
  • tâm không định → biết là không định
  • tâm giải thoát → biết là giải thoát
  • tâm chưa giải thoát → biết là chưa giải thoát
    ‘Khi bốn thần túc được tu tập như vậy, một hành giả nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời…mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại–thành.

Vị ấy nhớ: “Ta đã từng có tên như vậy, thuộc dòng họ như vậy, hình dáng như vậy, ăn uống như vậy, cảm thọ lạc khổ như vậy, tuổi thọ như vậy…” Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ cùng chi tiết.

‘Khi bốn thần túc được tu tập như vậy, một hành giả với thiên nhãn (dibba-cakkhu) thanh tịnh vượt người, thấy chúng sinh:

  • chết và tái sinh
  • hạ liệt và cao thượng
  • đẹp và xấu
  • hạnh phúc và bất hạnh

Vị ấy hiểu rõ theo nghiệp: “Những chúng sinh làm ác thân–khẩu–ý, phỉ báng bậc Thánh, có tà kiến…sau khi chết sinh vào cõi khổ, địa ngục. Những chúng sinh làm thiện thân–khẩu–ý, có chánh kiến…sau khi chết sinh vào ci lành, cõi trời.”

‘Khi bốn thần túc được tu tập như vậy, một hành giả do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này: chứng ngộ và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng tri với thắng trí.’”

Chú Thích

“na ca atilīno accāraddha ” (không quá chùng, không quá căng). Cụm từ này là nguyên tắc trung đạo trong thiền định:

  • atilīna = quá trầm, tâm chìm (hôn trầm)
  • accāraddha = quá căng, tâm kích động

Đây là: điểm cân bằng của samādhi (định). Trong sự tu tập liên hệ đến việc điều chỉnh viriya (tinh tấn) để tránh: thina-middha (hôn trầm) và uddhacca (trạo cử)

chābhiññāpādakā iddhipādā”Nghĩa:

  • iddhipāda = “nền tảng của thần lực”
  • chābhiññā = “sáu thắng trí”

Ý nghĩa:Bốn thần túc chính là cơ sở sinh khởi sáu thắng trí

 3. Sáu thắng trí (cha abhiññā) tức năng lực siêu nhiên gồm:

1. Thần túc thông (iddhividha)
2. Thiên nhĩ thông (dibba-sota)
3. Tha tâm thông (cetopariya-ñāṇa)
4. Túc mạng thông (pubbenivāsānussati)
5. Thiên nhãn thông (dibba-cakkhu)
6. Lậu tận trí (āsavakkhaya-ñāṇa)

 Theo Aṭṭhakathā  iddhipāda không phải mục tiêu  mà là “pādaka” (nền móng) dẫn đến abhiññā (thắng trí) và tối hậu giải thoát

Bốn thần túc không phải là “thần thông” mà là: nghệ thuật giữ tâm ở điểm quân bình tuyệt đối. Khi tâm: không chùng, không căng, không co, không tán  thì trí tuệ mở ra và mọi năng lực siêu việt thành tựu như ý.

Sớ Giải

823–824.
dutiyavaggassa paṭhame na ca atilīnotiādīni parato āvi bhavissanti.
imasmiṃ sutte chābhiññāpādakā iddhipādā kathitā, tathā dutiye ca.

823–824.

“Trong bài kinh thứ nhất của phẩm thứ hai, các cụm từ bắt đầu bằng ‘không quá chùng’ (na ca atilīno) v.v… sẽ được làm rõ về sau.

Trong bài kinh này, các thần túc (iddhipāda) được trình bày như là nền tảng cho sáu thắng trí (cha abhiññā); cũng vậy, trong bài kinh thứ hai.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Như Ý Túc

-ooOoo-

II. Phẩm Lầu Rung Chuyển

11.I. Trước hay Nhân (S.v,263)

1) Tại Sàvatthi.

2) -- Trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Do nhân gì, do duyên gì, tu tập như ý túc?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, với ý nghĩ: "Như vậy, ý muốn (dục) của ta sẽ không quá thụ động và không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng (pacchàpure-sanni). Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó (apariyonaddhena), với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

4) Có người tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành, với ý nghĩ: "Như vậy, tinh tấn của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

5) Có người tu tập tập như ý túc câu hữu với tâm định tinh cần hành, với ý nghĩ: "Như vậy, tâm của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

6) Có người tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành, với ý nghĩ: "Như vậy, tâm của ta sẽ không quá thụ động và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

7) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình, đi ngang qua tường, qua thành lũy, qua núi, không dính như đi ngang qua hư không; trồi lên, độn thổ, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không nứt ra như đi trên đất liền; ngồi kiết-già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

8) Tu tập như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, hoặc xa hoặc gần.

9) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo với tâm của mình rõ biết tâm của các chúng sanh, của những người khác. Với tâm có tham, vị ấy rõ biết là tâm có tham; với tâm không có tham, rõ biết là tâm không có tham; với tâm có sân, rõ biết là tâm có sân; với tâm không có sân, rõ biết là tâm không có sân; với tâm có si rõ biết là tâm có si; với tâm không có si, rõ biết là tâm không có si; với tâm co rút, rõ biết là tâm co rút; với tâm tán loạn, rõ biết là tâm tán loạn; với tâm đại hành, rõ biết là tâm đại hành; với tâm không đại hành, rõ biết là tâm không đại hành; với tâm hữu hạn, rõ biết là tâm hữu hạn; với tâm vô thượng, rõ biết là tâm vô thượng; với tâm Thiền định, rõ biết là tâm Thiền định; với tâm không Thiền định, rõ biết là tâm không Thiền định; với tâm không giải thoát, rõ biết là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, rõ biết là tâm giải thoát.

10) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ: Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: 'Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết.

11) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh: Vị ấy rõ biết chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang ; người đẹp đẽ, kẻ thô xấu; người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Các vị này làm những ác hạnh về thân, ngữ hay ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng: "Chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ".

12) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và chứng đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

12.II. Quả Lớn (S.v,267)

1) ...

2) -- Bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn. Bốn như ý túc, này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành (với ý nghĩ): "Như vậy, ý muốn của ta sẽ không quá thụ động, và cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

4-6) ... tinh tấn định... tâm định... tư duy định...

Bốn như ý túc được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.

7-11) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo chứng được nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân... có thể tự thân bay đến Phạm thiên...

12) Tu tập bốn như ý túc như vậy, làm cho sung mãn như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.