|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 04 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 640. HAI BÀI KINH VỀ LỢI LẠC CỦA TỨ THẦN TÚC - Kinh Có Quả Lớn (Mahapphalasuttaṃ), Kinh Định Dựa Trên Dục (Chandasamādhisuttaṃ) .
Đức Phật không đúc chúng sinh vào một khuôn mẫu xơ cứng. Hình
ảnh bốn vị đại thần – người dùng lòng nhiệt thành (Dục), người
dùng ý chí sắt đá (Tấn), người dùng mưu lược tâm thức (Tâm), và
người dùng sự minh triết thấu suốt (Thẩm) – đã khẳng định một
tinh thần nhân văn cao cả: Mọi lộ trình đều giá trị nếu nó dẫn
về chân lý. Ngài Raṭṭhapāla hay Ngài Soṇa không ai cao hơn ai;
họ chỉ đơn giản là đại diện cho những "nhịp điệu" khác nhau của
căn tánh. Người có xu hướng tình cảm sẽ đi bằng "Dục", người
mạnh mẽ sẽ đi bằng "Tấn". Điều này giải thích tại sao đạo Phật
là một mảnh đất tự do, nơi mỗi hành giả đều có thể tìm thấy
chính mình trong một pháp môn tương ứng.Kinh Văn
824. sāvatthinidānaṃ. “pubbeva me,
bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato
etadahosi — ‘ko nu kho hetu, ko paccayo iddhipādabhāvanāyā’ti?
tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi — ‘idha bhikkhu
chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti —
iti me chando na ca atilīno bhavissati, na ca atippaggahito
bhavissati, na ca ajjhattaṃ saṃkhitto bhavissati, na ca bahiddhā
vikkhitto bhavissati. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure
tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ,
yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ
tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ
cittaṃ bhāveti’”.
“Này các Tỳ-khưu, bốn pháp làm nền tảng thành tựu (thần túc) nầy, khi được
phát triển và trau dồi, sẽ mang lại quả báo lớn và lợi ích lớn.
Và này các Tỳ-khưu, làm thế nào để bốn pháp làm nền tảng thành
tựu (thần túc) được phát
triển và trau dồi mang lại quả báo lớn và lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một Tỳ-khưu tu tập nền tảng thành tựu (thần túc)
sở hữu sự hợp nhất của tam muội định do dục với nỗ lực kết cấu,
vị ấy tư duy: ‘Như vậy, dục của ta sẽ không quá thụ động, cũng
không quá căng thẳng; không bị co rút bên trong, cũng không bị
tán loạn bên ngoài.’ Vị ấy an trú với tâm tưởng trước sau như
một: ‘Trước thế nào, sau thế ấy; sau thế nào, trước thế ấy; dưới
thế nào, trên thế ấy; trên thế nào, dưới thế ấy; ngày thế nào,
đêm thế ấy; đêm thế nào, ngày thế ấy.’ Như vậy, với một tâm thức
rộng mở và không bị che lấp, vị ấy phát triển tâm chói sáng.
Vị ấy phát triển nền tảng thành tựu (thần túc) sở hữu
tam muội định do cần (Viriya)...
tam muội định do Tâm (Citta)... tam muội định do do thẩm
sát (Vīmaṃsā)... vị ấy phát triển một tâm chói sáng.
Này các Tỳ-khưu, khi bốn nền tảng thành tựu (thần túc) được phát triển và
trau dồi theo cách này, một Tỳ-khưu có thể thi triển các loại
thần thông: từ một thân biến thành nhiều thân... vị ấy có thể sử
dụng quyền năng của thân xác lên tới tận cõi Phạm thiên...
Này các Tỳ-khưu, khi bốn nền tảng thành tựu (thần túc) được phát triển và
trau dồi theo cách này, vị Tỳ-khưu ấy, bằng cách đoạn tận các
lậu hoặc, ngay trong kiếp sống này, tự mình chứng ngộ với thắng
trí, chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát
không còn lậu hoặc.”
Kinh Tam Muội Định
Dựa trên Dục (Chandasamādhisutta)
825. “chandaṃ ce, bhikkhave, bhikkhu nissāya labhati
samādhiṃ, labhati cittassa ekaggataṃ — ayaṃ vuccati
chandasamādhi. so anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ
anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ
paggaṇhāti padahati. uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ
pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ
paggaṇhāti padahati. anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya
chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti
padahati. uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya
bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti
vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. ime
vuccanti ‘padhānasaṅkhārā’ti. iti ayañca chando, ayañca
chandasamādhi, ime ca padhānasaṅkhārā — ayaṃ vuccati, bhikkhave,
‘chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo’”.
“Này các Tỳ-khưu, nếu một Tỳ-khưu chứng được tam muội định, chứng được sự
nhất tâm dựa trên dục, đây gọi là tam muội định do ước nguyện.
Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các ác bất thiện pháp chưa sanh
không được sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng
tâm và tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn tận các ác bất thiện
pháp đã sanh; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và
tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các thiện pháp chưa sanh
được sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và
tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì các thiện pháp đã sanh,
khiến chúng không bị tàn lụi, mà được tăng trưởng, mở rộng và
hoàn thiện bởi sự tu tập; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp
dụng tâm và tận lực. Những điều này được gọi là nỗ lực kết cấu.
Như vậy, chính dục nầy, cùng với tam muội định do (pháp) dục này
và các nỗ lực kết cấu: đây được gọi là nền tảng thành tựu (thần
túc) sở hữu tam muội định
do dục này và các nỗ lực kết cấu.
Này các Tỳ-khưu, nếu một Tỳ-khưu chứng được tam muội định, chứng được sự
nhất tâm dựa trên cần, đây gọi là tam muội định do cần. Vị ấy
khởi lên ý muốn khiến các ác bất thiện pháp chưa sanh không được
sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận
lực. Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn tận các ác bất thiện pháp đã
sanh; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận lực.
Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các thiện pháp chưa sanh được sanh
khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận lực.
Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì các thiện pháp đã sanh, khiến
chúng không bị tàn lụi, mà được tăng trưởng, mở rộng và hoàn
thiện bởi sự tu tập; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng
tâm và tận lực. Những điều này được gọi là nỗ lực kết cấu.
Như vậy, chính cần nầy, cùng với tam muội định do cần này
và các nỗ lực kết cấu: đây được gọi là nền tảng thành tựu (thần
túc) sở hữu tam muội
định do cần nầy và các nỗ lực kết cấu.
Này các Tỳ-khưu, nếu một Tỳ-khưu chứng được tam muội định, chứng được sự
nhất tâm dựa trên tâm, đây gọi là tam muội định do tâm. Vị ấy
khởi lên ý muốn khiến các ác bất thiện pháp chưa sanh không được
sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận
lực. Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn tận các ác bất thiện pháp đã
sanh; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận lực.
Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các thiện pháp chưa sanh được sanh
khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và tận lực.
Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì các thiện pháp đã sanh, khiến
chúng không bị tàn lụi, mà được tăng trưởng, mở rộng và hoàn
thiện bởi sự tu tập; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng
tâm và tận lực. Những điều này được gọi là nỗ lực kết cấu.
Như vậy, chính cần nầy, cùng với tam muội định do tâm này
và các nỗ lực kết cấu: đây được gọi là nền tảng thành tựu (thần
túc) sở hữu tam muội
định do tâ nầy và các nỗ lực kết cấu.
Này các Tỳ-khưu, nếu một Tỳ-khưu chứng được tam muội định, chứng được sự
nhất tâm dựa trên thẩm sát, đây gọi là tam muội định do thẩm
sát. Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các ác bất thiện pháp chưa sanh
không được sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng
tâm và tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn tận các ác bất thiện
pháp đã sanh; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và
tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn khiến các thiện pháp chưa sanh
được sanh khởi; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp dụng tâm và
tận lực. Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì các thiện pháp đã sanh,
khiến chúng không bị tàn lụi, mà được tăng trưởng, mở rộng và
hoàn thiện bởi sự tu tập; vị ấy nỗ lực, khơi dậy tinh tấn, áp
dụng tâm và tận lực. Những điều này được gọi là nỗ lực kết cấu.
Như vậy, chính thẩm sát nầy, cùng với tam muội định do
thẩm sát này và các nỗ lực kết cấu: đây được gọi là nền tảng
thành tựu (thần túc)
sở hữu tam muội định do thẩm sát nầy và các nỗ lực kết cấu.
Chú Thích
Sớ giải định nghĩa các thành phần của cụm từ quen thuộc
nhưng khó hiểu
trong chương ưng nền tảng thành tựu (thần túc)
2. Sự tương quan đồng sanh
Đoạn văn giải thích rằng trong thực tế tu tập, Dục, Định và Cần hành không
tách rời:
Khi hội đủ các pháp này lại thành một khối, Đức Phật gọi đó là
"nền tảng thành tựu sở hữu sự hợp
nhất của tam muội định do dục và nỗ lực kết cấu.".
Sớ giải cũng nên lên sư phân tích theo Thắng Pháp
(Abhidhamma).
Trích dẫn từ bộ Vibhaṅga (Phân Tích): Thần túc không chỉ là các thuộc tánh
(tâm sở) chính (Dục, Tấn, Tâm, Thẩm) mà còn bao gồm cả các pháp
danh uẩn khác (Thọ, Tưởng, Thức) đi cùng với các pháp đó.
Các cách giải thích đặc biệt (Apica) cũng ghi nhận với hai
trường hợp sau:
a.
Sự hoán đổi vai trò "nền tảng" và "thành quả"
Đoạn chú giải đưa ra một cái nhìn sâu sắc:
b.
Giai đoạn chuẩn bị
(Pubbabhāga)
Thần túc cũng được hiểu là các pháp chuẩn bị (Parikamma). Ví dụ: Sơ thiền
là Thần thông, còn các nỗ lực, ý muốn chuẩn bị cho Sơ thiền được
gọi là nền tảng thành tựu. Điều này áp dụng cho tất cả các tầng
thiền, các thắng trí (Biến hóa thông, Thiên nhãn thông) và cả
bốn Đạo quả (từ Sơ đạo đến Đại quả A-la-hán).
Sớ giải cũng đưa ra dụ ngôn về Bốn Vị Đại
Thần.
Đây là phần thú vị nhất của đoạn chú giải, minh họa cách bốn vị Thánh tăng
chứng đạt siêu thế bằng các "vị chủ trì" khác nhau:
1.
Tôn giả Raṭṭhapālala lấy chanda (dục
muốn) làm chính
2.
Tôn giả Soṇa Thera lấy vīriya (tinh
tấn) làm chính.
3.
Tôn giả Sambhuta Thera lấy citta (tâm)
làm chính.
4.
Tôn giả Mogharāja Thera lấy vīmaṃsā
(thẩm sát) làm chính.
So sánh với bốn vị quan:
1. Tôn giả Raṭṭhapāla Thera – Lấy Chanda (Dục muốn) làm
chính
Tôn giả Raṭṭhapāla xuất thân từ một gia đình giàu có, thuộc giai cấp
Sát-đế-lỵ tại thành Thullakoṭṭhita. Ngay từ khi còn trẻ, Ngài đã
có một khát vọng mãnh liệt (chanda) hướng về đời sống phạm hạnh.
Dù cha mẹ hết sức phản đối và dùng nhiều cách ngăn cản, thậm chí
giả bệnh để giữ Ngài lại, nhưng khát vọng xuất gia của Ngài vẫn
cháy bỏng không gì lay chuyển nổi.
Sau khi vượt qua muôn vàn trở ngại, Ngài xuất gia và tinh tấn tu tập dưới
sự hướng dẫn của Đức Phật. Với chanda (dục muốn giải thoát) làm
chủ đạo, Ngài nhanh chóng chứng đắc A-la-hán quả. Tôn giả
Raṭṭhapāla là điển hình cho sức mạnh của chandiddhipāda – nền
tảng thần lực dựa trên khát vọng mãnh liệt và chân thành hướng
đến giải thoát.
Đức Phật từng khen ngợi Ngài là một trong những vị Tỳ-kheo có “khát vọng
giải thoát lớn nhất” trong Tăng đoàn.
2. Tôn giả Soṇa - lấy Vīriya (Tinh tấn) làm chính
Tôn giả Soṇa Kolivisa (Soṇa người làng Koliya) xuất thân từ một gia đình
giàu sang. Trước khi xuất gia, Ngài là một nhạc sĩ tài ba, nổi
tiếng với khả năng chơi đàn tỳ bà.
Sau khi xuất gia, Ngài gặp khó khăn lớn vì thân thể mảnh khảnh, da mỏng,
dễ bị thương khi hành trì khổ hạnh. Tuy nhiên, với tinh tấn kiên
cường (vīriya), Ngài không hề nản lòng. Ngài từng thực hành
thiền hành đến mức chân chảy máu, in dấu chân đỏ trên nền đất.
Nhờ sức mạnh của vīriyiddhipāda (nền tảng thần lực dựa trên tinh tấn), Tôn
giả Soṇa đã vượt qua mọi chướng ngại và chứng đắc A-la-hán quả.
Đức Phật đã khen ngợi Ngài là bậc “nhất về tinh tấn” (vīriyena
agga) trong số các Tỳ-kheo.
3. Tôn giả Sambhuta - lấy Citta (Tâm) làm chính
Tôn giả Sambhuta (còn gọi là Sambhūta) là một vị Tỳ-kheo có tâm định rất
mạnh. Ngài lấy citta (tâm lực, sự định tâm) làm nền tảng chính
trong việc tu tập.
Với sức mạnh của tâm định (samādhi), Ngài có khả năng giữ tâm vững chãi,
không bị ngoại cảnh lay động. Ngài thường an trú trong các tầng
thiền một cách dễ dàng và sử dụng định lực này để quán chiếu vô
thường, khổ, vô ngã.
Nhờ cittiddhipāda (nền tảng thần lực dựa trên tâm), Tôn giả Sambhuta đã
chứng ngộ A-la-hán quả một cách tương đối nhanh chóng. Ngài là
tấm gương sáng về việc dùng sức mạnh của tâm định để hỗ trợ trí
tuệ phát sinh.
4. Tôn giả Mogharāja – lấy Vīmaṃsā (Thẩm sát, Tuệ
quán) làm chính
Tôn giả Mogharāja là một trong những vị Tỳ-kheo có trí tuệ sắc bén và
phương pháp quán sát rất sâu sắc. Ngài lấy vīmaṃsā (sự thẩm sát,
tuệ quán, trí phân tích) làm nền tảng chính.
Ngài nổi tiếng với lối tu “quán sát kỹ lưỡng” (yoniso manasikāra) và khả
năng phân tích các pháp một cách logic, rõ ràng. Tôn giả thường
dùng tuệ quán để phá tan mọi tà kiến và chấp thủ vi tế.
Nhờ sức mạnh của vīmaṃsiddhipāda (nền tảng thần lực dựa trên tuệ quán),
Ngài đã chứng đắc A-la-hán quả. Đức Phật từng khen ngợi Ngài là
bậc “nhất về tuệ quán và thẩm sát” trong Tăng đoàn.Tôn giả
Mogharāja cũng là một trong những vị Tỳ-kheo được Đức Phật giao
trọng trách đối đáp với các ngoại đạo có học thức cao.
Sớ giải cần lưu ý tính nhất quán: Dù tu tập theo lối nào (Dục, Tấn, Tâm
hay Thẩm), mục đích cuối cùng đều là đạt đến Siêu thế
(Lokuttara), đoạn tận kiết sử và chứng đắc Niết-bàn.
Nên lưu ý sự linh hoạt: Mỗi hành giả tùy theo căn cơ (khuynh
hướng nhiệt thành, nỗ lực, ý chí hay trí tuệ) mà chọn cho mình
một pháp "chủ trì" (Dhura) phù hợp.
Sớ giải cũng nêu lên vấn đề tranh luận bác
bỏ quan điểm cho rằng "Dục chưa sinh khởi" là Thần túc. Thắng
Pháp xác nhận rằng chỉ khi tâm hướng đến các tầng thiền Siêu
thế, với các trạng thái thiện chói sáng, thì các pháp đó mới
thực sự gọi là Thần túc pháp hoàn thiện.
Bài kinh này đặc biệt nhấn mạnh về "Vīvaṭṭapādaka-iddhi"
– tức là Thần thông dẫn đến sự chấm dứt luân hồi (Vòng xoáy sinh
tử bị phá vỡ).
Sớ Giải
824–tatiye chandanti
kattukamyatāchandaṃ. nissāyāti nissayaṃ katvā, adhipatiṃ katvāti
attho. padhānasaṅkhārāti padhānabhūtā saṅkhārā,
catukiccasādhakasammappadhānavīriyassetaṃ adhivacanaṃ. iti
ayañca chandotiādīsu chando chandasamādhinā ceva
padhānasaṅkhārehi ca, chandasamādhi chandena ceva
padhānasaṅkhārehi ca, padhānasaṅkhārāpi chandena ceva
chandasamādhinā ca samannāgatā. tasmā sabbe te dhamme ekato
katvā ayaṃ vuccati, bhikkhave,
chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādoti vuttaṃ.
iddhipādavibhaṅge (vibha. 437) pana “yo tathābhūtassa
vedanākkhandho tiādinā nayena imehi dhammehi samannāgatā
sesārūpino dhammā iddhipādāti vuttā. ♦ apica imepi tayo dhammā
iddhīpi honti iddhipādāpi. kathaṃ?
Trong bài kinh thứ ba (chandasamādhi), “chanda” ở đây được hiểu là
kattukamyatā-chanda – tức là dục muốn làm, dục muốn thực hành,
dục muốn đạt được (không phải dục tham ái thông thường).
Nissāya nghĩa là lấy chanda làm chỗ nương tựa, làm chỗ dựa, làm adhipati
(chủ đạo, thế lực tối thượng) cho sự tu tập.
Padhānasaṅkhārāti padhānabhūtā saṅkhārā,
catukiccasādhakasammappadhānavīriyassetaṃ adhivacanaṃ.
“Padhānasaṅkhāra” là những nỗ lực kết cấu (viriyasaṅkhāra) có tính chất ưu
việt, thuộc Tứ Chánh
Cần (sammappadhāna) – bốn nỗ lực chân chính giúp hoàn thành bốn
nhiệm vụ: ngăn ác chưa sinh, diệt ác đã sinh, sinh thiện chưa
sinh, nuôi dưỡng thiện đã sinh.
Iti ayañca chando tiādīsu…
Trong cụm từ “chanda, chandasamādhi, padhānasaṅkhāra”, ba pháp
này hỗ trợ lẫn nhau:
Do đó, khi hợp nhất cả ba pháp này lại với nhau, Đức Phật gọi đó là:
“Chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo” (Nền tảng thành tựu hay thần lực gồm có tam muội định
do dục và các nỗ lực kết cấu).
Trong Iddhipāda-vibhaṅga (Vibha. 437) lại giải thích theo cách khác:
“Những pháp còn lại (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) khi được hội
đủ với các pháp này thì cũng được gọi là iddhipāda.”
Ba pháp này vừa là
iddhi, vừa là iddhipāda
Cách hiểu thứ nhất:
Khi một pháp trong ba pháp này được thành tựu, hai pháp kia cũng đồng thời
thành tựu. Đây là sự hỗ trợ lẫn nhau rất chặt chẽ.
Cách hiểu thứ hai: Theo giai đoạn tu tập (pubbabhāga)
Ba pháp này cũng có thể được hiểu theo giai đoạn chuẩn bị (pubbabhāga):
Cách hiểu này được mở rộng từ thiền sơ cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ,
từ thần thông cho đến lục thông, từ Sơ đạo cho đến A-la-hán đạo.
Phản bác quan điểm “chanda chưa sinh là iddhipāda”
Một số người cho rằng “chanda chưa sinh (anibbatto chando) cũng là
iddhipāda”. Để bác bỏ quan điểm này, trong Abhidhamma có đoạn
Uttaracūḷavāra (Vibha. 457-458) nêu rõ:
“Chandiddhipādo là khi Tỳ khưu phát triển thiền xuất thế
(lokuttara-jhāna), lúc ấy dục muốn (chanda) hướng đến việc đoạn
trừ kiến chấp, chứng đắc địa thứ nhất… Đó mới thực sự là
chandiddhipādo.”
Như vậy, iddhipāda ở đây chủ yếu được hiểu theo lộ trình xuất thế
(lokuttara), không phải dục muốn thông thường.
Ví dụ minh họa bằng bốn vị Tỳ-khưu với bốn nền tảng thần lực:
5.
Raṭṭhapāla Thera lấy chanda (dục muốn)
làm chính
6.
Soṇa Thera lấy vīriya (tinh tấn) làm
chính.
7.
Sambhuta Thera lấy citta (tâm) làm
chính.
8.
Mogharāja Thera lấy vīmaṃsā (thẩm sát)
làm chính.
So sánh với bốn vị quan:
Trong bài kinh này, Đức Phật đang nói về iddhipāda thuộc về xuất thế
(vivaṭṭapādaka-iddhi), tức là những nền tảng thần lực dẫn đến
giải thoát, chứ không phải thần thông thế gian.
|