|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 07 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 641. CHỈ BẰNG NGÓN CHÂN - Kinh Moggallāna (Moggallānasuttaṃ ) .
Có những bài kinh không dài, nhưng như một tiếng chuông vang
xuyên qua tâm thức người học đạo. Bài kinh về Tôn giả
Mahāmoggallāna chính là một tiếng chuông như vậy—không chỉ làm
rung chuyển một tòa nhà, mà còn làm rung chuyển cả sự lơ là
trong tâm hành giả. Những vị Tỳ-khưu sống trong Migāramātupāsāda
không phải là kẻ xấu. Họ chỉ “tán loạn, phóng dật, buông lung
các căn”—một trạng thái rất quen thuộc, rất “đời thường” của bất
cứ ai trên con đường tu tập. Và chính ở điểm này, bài kinh trở
nên sâu sắc: vấn đề không nằm ở ác, mà nằm ở sự buông xuôi trong
thiện. Tôn giả Moggallāna không giảng dài dòng. Ngài không tranh
luận. Ngài chỉ khẽ chạm ngón chân—và cả lâu đài rung chuyển. Đó
không phải là biểu diễn thần thông. Đó là một phương tiện tỉnh
thức.Kinh Văn atha kho bhagavā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ āmantesi — “ete kho, moggallāna, sabrahmacārino heṭṭhāmigāramātupāsāde viharanti uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā bhantacittā pākatindriyā. gaccha, moggallāna, te bhikkhū saṃvejehī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavato paṭissutvā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāresi {abhisaṅkharesi (syā. pī. ka.)} yathā pādaṅguṭṭhakena migāramātupāsādaṃ saṅkampesi sampakampesi sampacālesi. atha kho te bhikkhū saṃviggā lomahaṭṭhajātā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu — “acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho! nivātañca vata ayañca migāramātupāsādo gambhīranemo sunikhāto acalo asampakampī, atha ca pana saṅkampito sampakampito sampacālito”ti! atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū bhagavā etadavoca — “kiṃ nu tumhe, bhikkhave, saṃviggā lomahaṭṭhajātā ekamantaṃ ṭhitā”ti? “acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ bhante! nivātañca vata ayañca migāramātupāsādo gambhīranemo sunikhāto acalo asampakampī, atha ca pana saṅkampito sampakampito sampacālito”ti! “tumheva kho, bhikkhave, saṃvejetukāmena moggallānena bhikkhunā pādaṅguṭṭhakena migāramātupāsādo, saṅkampito sampakampito sampacālito. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamesaṃ dhammānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo”ti? “bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṃnettikā bhagavaṃpaṭisaraṇā. sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti. “tena hi, bhikkhave, suṇātha. catunnaṃ kho, bhikkhave, iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo. katamesaṃ catunnaṃ? idha, bhikkhave, moggallāno bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — ‘iti me vīmaṃsā na ca atilīnā bhavissati, na ca atippaggahitā bhavissati; na ca ajjhattaṃ saṃkhittā bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittā bhavissati’. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. imesaṃ kho, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo. imesañca pana, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti ... pe ... imesañca pana, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti. catutthaṃ. Tôi được nghe như vầy. Một thuớ, Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī,
trong Đông Viên, tại Migāramātupāsāde. Lúc bấy giờ, một số Tỳ khưu đang trú ở tầng
dưới của Migāramātupāsāde với
tâm tư dao động, kiêu mạn, tự cao, nhiều lời, tạp thoại, tâm ý
không tu tập, không tỉnh giác, không định tĩnh, thất niệm, các
căn buông thả. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Mahāmoggallāna
và nói: “Này Moggallāna, các Tỳ khưu đồng phạm hạnh
của Thầy đang trú ở tầng dưới Migāramātupāsāde với tâm tư dao
động, kiêu mạn, tự cao, nhiều lời, tạp thoại, tâm ý không tu
tập, không tỉnh giác, không định tĩnh, thất niệm, các căn buông
thả. Hãy đi, này Moggallāna, hãy khơi dậy ý thức
cấp thiết cho những Tỳ
khưu ấy.” “Dạ vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả
Mahāmoggallāna vâng lời. Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna đã thực hiện
một phép thần thông, dùng ngón chân cái làm cho cả
Migāramātupāsāde rung chuyển, chấn động và run lên. Khi ấy, những Tỳ khưu kia kinh hãi, hoảng
sợ, đứng sang một bên và nói: “Thật hy hữu thay! Thật vi diệu thay! Không
có gió, mà lâu đài của mẹ Migāra này có nền móng sâu, được xây
dựng vững chắc, bất động, không rung chuyển, vậy mà lại rung
chuyển, chấn động và lắc mạnh.” Bấy giờ, Thế Tôn đến chỗ các Tỳ khưu ấy và
hỏi: “Này các Tỳ khưu, vì sao các Thầy đứng sang
một bên, kinh hãi và hoảng sợ như vậy?” “Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Thật vi diệu!
Không có gió, mà lâu đài của mẹ Migāra này có nền móng sâu, được
xây dựng vững chắc, bất động, không rung chuyển, vậy mà lại rung
chuyển, chấn động và lắc mạnh.” “Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Moggallāna muốn
khơi dậy ý thức cấp thiết cho các Thầy, nên đã dùng ngón chân
cái làm cho Migāramātupāsāde rung chuyển, chấn động và lắc mạnh.
Này các Tỳ khưu, các Thầy nghĩ thế nào? Nhờ tu tập và làm cho
sung mãn những pháp gì mà Tỳ khưu Moggallāna trở nên có đại thần
lực, đại uy lực như vậy?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy
Thế Tôn làm gốc rễ, lấy Thế Tôn làm hướng dẫn, nương tựa vào Thế
Tôn. Lành thay nếu Thế Tôn giải thích rõ ý nghĩa của câu hỏi
này. Sau khi được nghe từ Ngài, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy hãy lắng nghe, này các Tỳ khưu… Chính vì Tỳ khưu Moggallāna đã tu tập và
làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực nên vị ấy trở nên có đại
thần lực, đại uy lực. Bốn nền tảng ấy là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Moggallāna
tu tập nền tảng thần lực có sự định do dục, cùng với các nỗ lực
kết thành, nghĩ rằng: ‘Như vậy, dục của ta sẽ không quá lỏng lẻo
cũng không quá căng thẳng; nó sẽ không bị co rút bên trong cũng
không bị tán loạn bên ngoài.’ Và ông ấy trú, quán trước sau:
‘Như trước, như sau; như sau, như trước; như dưới, như trên; như
trên, như dưới; như ban ngày, như ban đêm; như ban đêm, như ban
ngày.’ Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập
tâm có ánh sáng chói sáng. Vị ấy tu tập nền tảng thần lực có sự định
do tinh tấn… do tâm… do tuệ… cùng với các nỗ lực kết thành, và
tu tập tâm có ánh sáng chói sáng. Này các Tỳ khưu, chính vì Tỳ khưu
Moggallāna đã tu tập và làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực
này mà ông ấy trở nên có đại thần lực, đại uy lực. Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn
nền tảng thần lực này mà Tỳ khưu Moggallāna chứng được các loại
thần thông khác nhau: từ một thân biến thành nhiều thân… thực
hành sự tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên… Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn
nền tảng thần lực này mà Tỳ khưu Moggallāna, nhờ sự diệt trừ các
lậu hoặc, ngay trong đời hiện tại chứng đạt và an trú trong tâm
giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng
trí.”
Chú Thích
Migāramātupāsāda
có nghĩa là "Lâu đài của mẹ Migāra". “Mẹ Migāra” là mỹ
danh của nữ thí chủ Visākha: Người xây dựng và dâng cúng giảng
đường này là bà Visākha, nữ thí chủ đệ nhất của Đức Phật. Tại
sao gọi là "Mẹ Migāra"?
vốn là tên của cha chồng bà Visākha. Ông vốn là người
theo ngoại đạo, nhưng nhờ sự dẫn dắt của bà, ông đã quy hướng
Tam bảo và đắc quả Tu-đà-hoàn. Để bày tỏ lòng tri ân, ông tôn
kính bà như người mẹ tinh thần và gọi bà là "Migāramātā" (Mẹ của
Migāra). Từ đó, giảng đường bà xây dựng mang tên này. Trong kinh
chữ Hán thường dịch là Giảng đường Lộc Mẫu vì Migāra nghĩa đen
là con nai (đúng ra tên riêng thì không nên dịch nghĩa ngoại trừ
lý do cần thiết nào đó (…). Đây là một trong những thánh tích
quan trọng nhất tại Sāvatthī (Xá-vệ), nơi Đức Phật đã lưu trú
trong nhiều mùa an cư kiết hạ và thuyết giảng nhiều bài kinh
quan trọng. Migāramātupāsāda nằm trong tu viện
Pubbārāma (Đông Viên), phía Đông thành Sāvatthī. Đây là đối
trọng với tu viện Jetavana (Kỳ Viên) nằm ở phía Tây. Bà Visākha đã bán chiếc áo choàng quý
giá nhất của mình (Mahālatā-pasādhana) với giá 90 triệu đồng
vàng để lấy kinh phí xây dựng. Migāramātupāsāda có hai tầng, mỗi tầng
có 500 phòng (tổng cộng 1.000 phòng).Công trình được trang trí
lộng lẫy, kiên cố và có nền móng rất sâu (như đã mô tả trong chú
giải về thần thông của ngài Mục-kiền-liên).Đức Phật thường ở
tầng trên, còn các Tỳ-khưu lưu trú ở tầng trệt. Chính vì sự nguy
nga của pháp xá nầy nên gọi là pāsāda mà nhiều bản kinh dịch là
“lâu đài” Nhiều
bài kinh quan trọng được thuyết tại đây, bao gồm các bài kinh về
Bốn Pháp Thần Túc, các bài kinh về Tánh Không (như Tiểu Không
Kinh - Cūḷasuññata Sutta), và nhiều hướng dẫn dành cho hàng cư
sĩ. Đức Phật đã trải qua tổng cộng 6 mùa an cư tại giảng đường
này (trong tổng số 24 mùa an cư tại Sāvatthī). Một phần của bài kinh được chánh văn rút
gọn mô tả về lục thông của Tôn giả Moggallāna. Sớ giải mô tả tình trạng yếu kém trong
sự tu tập của một số Tỳ khưu ở tầng dưới pháp xá
Migāramātupāsāda. Đây không phải là những vị ác xấu mà là sự
thiếu tu tập nghiêm túc rất thường xẩy ra trong các chùa chiền
(bất an, kiêu mạn, phóng dật, thất niệm, thiếu định…). Sớ giải cũng chú thích cách Tôn giả
Mahāmoggallāna dùng thần thông (làm rung chuyển lâu đài) để khơi
dậy ý thức cấp thiết (saṃvega) cho họ. Đồng thời, đoạn chú cũng
phân tích rõ ý nghĩa của từng từ chỉ trích mà Đức Phật dùng để
mô tả tâm trạng buông lung, thiếu tu tập của các Tỳ khưu.
Sớ Giải
826. catutthe uddhatāti
uddhaccapakatikā vipphandamānacittā. uddhaccena hi ekārammaṇe
cittaṃ vipphandati dhajayaṭṭhiyaṃ vātena pahatadhajo viya.
unnaḷāti uggatanaḷā, uṭṭhitatucchamānāti vuttaṃ hoti. capalāti
pattacīvaramaṇḍanādicāpallena yuttā. mukharāti mukhakharā,
kharavacanāti vuttaṃ hoti. vikiṇṇavācāti asaṃyatavacanā
divasampi niratthakavacanappalāpino. muṭṭhassatīti
naṭṭhassatino. 826. Trong bài kinh thứ tư,
“Uddhatā” nghĩa là
những người có tính chất dao dộng (uddhacca), tâm thường không
yên. Tâm của họ bị phóng dật làm cho rung động, lung lay trên
một đối tượng, giống như ngọn cờ bị gió thổi lay mạnh trên cây
cột cờ.
“Unnaḷā” nghĩa là
kiêu mạn, ngạo mạn, tự cao tự đại, giống như cây lau sậy mọc cao
nhưng ruột rỗng (chỉ có hình thức bên ngoài mà không có nội
dung).
“Capalā” nghĩa là
hay thay đổi, không vững chãi, hay chuộng sự trang sức bên ngoài
như y phục, bát, chỗ ở… (thích làm đẹp bề ngoài).
“Mukharā” nghĩa là
miệng lưỡi thô lỗ, nói năng gay gắt, lời nói cứng rắn, thiếu từ
hòa. “Vikiṇṇavācā”
nghĩa là nói năng lan man, không kiểm soát, suốt ngày nói những
lời vô ích, ba hoa, không có ý chính rõ ràng. “Muṭṭhassati”
nghĩa là thất niệm, mất chánh niệm.
“Asampajāna”
nghĩa là thiếu tỉnh giác, không có trí tuệ sáng suốt.
“Asamāhita” nghĩa là
không có định, thiếu cả cận định (upacāra-samādhi) lẫn an chỉ
định (appanā-samādhi).
“Bhantacitta” nghĩa là
tâm bị xáo động, tán loạn, vì thiếu định nên phóng dật có cơ hội
trỗi dậy mạnh mẽ.
“Pākatindriya” nghĩa là
các căn không được chế ngự, không được bảo vệ, để lộ ra ngoài.
“Iddhābhisaṅkhāra”
nghĩa là sự tạo tác thần thông. Tôn giả Mahāmoggallāna nhập vào
thiền án nước (āpokasiṇa), xuất định, rồi biến một phần đất dưới
nền lâu đài thành nước, sau đó dùng ngón chân cái làm rung
chuyển cả lâu đài đang đứng trên mặt nước ấy.
“Gambhīranemo” nghĩa là
có nền móng sâu, được chôn sâu vào lòng đất.
“Sunikhāto” nghĩa là
được đóng xuống rất chắc chắn, được xây dựng kiên cố. Trong bài kinh này, Đức Phật đang nói về
thần thông dựa trên thắng trí (abhiññāpādaka-iddhi),
tức là thần thông xuất phát từ sức mạnh của tuệ giác và thiền
định bậc cao.
|