BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 07 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 51. Tương Ưng Thần Túc-Phẩm Chấn Động Ngôi Đền - SN 51.14-
Bài 641. CHỈ BẰNG NGÓN CHÂN -

Kinh Moggallāna (Moggallānasuttaṃ ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-641.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Có những bài kinh không dài, nhưng như một tiếng chuông vang xuyên qua tâm thức người học đạo. Bài kinh về Tôn giả Mahāmoggallāna chính là một tiếng chuông như vậy—không chỉ làm rung chuyển một tòa nhà, mà còn làm rung chuyển cả sự lơ là trong tâm hành giả. Những vị Tỳ-khưu sống trong Migāramātupāsāda không phải là kẻ xấu. Họ chỉ “tán loạn, phóng dật, buông lung các căn”—một trạng thái rất quen thuộc, rất “đời thường” của bất cứ ai trên con đường tu tập. Và chính ở điểm này, bài kinh trở nên sâu sắc: vấn đề không nằm ở ác, mà nằm ở sự buông xuôi trong thiện. Tôn giả Moggallāna không giảng dài dòng. Ngài không tranh luận. Ngài chỉ khẽ chạm ngón chân—và cả lâu đài rung chuyển. Đó không phải là biểu diễn thần thông. Đó là một phương tiện tỉnh thức.
Kinh Văn
826. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme migāramātupāsāde. tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū heṭṭhāmigāramātupāsāde viharanti uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā bhantacittā {vibbhantacittā (sī. syā. kaṃ.)} pākatindriyā.
atha kho bhagavā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ āmantesi — “ete kho, moggallāna, sabrahmacārino heṭṭhāmigāramātupāsāde viharanti uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā bhantacittā pākatindriyā. gaccha, moggallāna, te bhikkhū saṃvejehī”ti.
“evaṃ, bhante”ti kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavato paṭissutvā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāresi {abhisaṅkharesi (syā. pī. ka.)} yathā pādaṅguṭṭhakena migāramātupāsādaṃ saṅkampesi sampakampesi sampacālesi. atha kho te bhikkhū saṃviggā lomahaṭṭhajātā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu — “acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho! nivātañca vata ayañca migāramātupāsādo gambhīranemo sunikhāto acalo asampakampī, atha ca pana saṅkampito sampakampito sampacālito”ti!
atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū bhagavā etadavoca — “kiṃ nu tumhe, bhikkhave, saṃviggā lomahaṭṭhajātā ekamantaṃ ṭhitā”ti? “acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ bhante! nivātañca vata ayañca migāramātupāsādo gambhīranemo sunikhāto acalo asampakampī, atha ca pana saṅkampito sampakampito sampacālito”ti! “tumheva kho, bhikkhave, saṃvejetukāmena moggallānena bhikkhunā pādaṅguṭṭhakena migāramātupāsādo, saṅkampito sampakampito sampacālito. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, katamesaṃ dhammānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo”ti? “bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā, bhagavaṃnettikā bhagavaṃpaṭisaraṇā. sādhu vata, bhante, bhagavantaṃyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“tena hi, bhikkhave, suṇātha. catunnaṃ kho, bhikkhave, iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo. katamesaṃ catunnaṃ? idha, bhikkhave, moggallāno bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — ‘iti me vīmaṃsā na ca atilīnā bhavissati, na ca atippaggahitā bhavissati; na ca ajjhattaṃ saṃkhittā bhavissati, na ca bahiddhā vikkhittā bhavissati’. pacchāpuresaññī ca viharati — yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure; yathā adho tathā uddhaṃ yathā uddhaṃ tathā adho; yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā. iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. imesaṃ kho, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo. imesañca pana, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti ... pe ... imesañca pana, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā moggallāno bhikkhu āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti. catutthaṃ.

Tôi được nghe như vầy.

Một thuớ, Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, trong Đông Viên, tại Migāramātupāsāde.

Lúc bấy giờ, một số Tỳ khưu đang trú ở tầng dưới của Migāramātupāsāde  với tâm tư dao động, kiêu mạn, tự cao, nhiều lời, tạp thoại, tâm ý không tu tập, không tỉnh giác, không định tĩnh, thất niệm, các căn buông thả.

Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Mahāmoggallāna và nói:

“Này Moggallāna, các Tỳ khưu đồng phạm hạnh của Thầy đang trú ở tầng dưới Migāramātupāsāde với tâm tư dao động, kiêu mạn, tự cao, nhiều lời, tạp thoại, tâm ý không tu tập, không tỉnh giác, không định tĩnh, thất niệm, các căn buông thả. Hãy đi, này Moggallāna, hãy khơi dậy ý thức  cấp thiết cho những Tỳ khưu ấy.”

“Dạ vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Mahāmoggallāna vâng lời.

Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna đã thực hiện một phép thần thông, dùng ngón chân cái làm cho cả Migāramātupāsāde rung chuyển, chấn động và run lên.

Khi ấy, những Tỳ khưu kia kinh hãi, hoảng sợ, đứng sang một bên và nói:

“Thật hy hữu thay! Thật vi diệu thay! Không có gió, mà lâu đài của mẹ Migāra này có nền móng sâu, được xây dựng vững chắc, bất động, không rung chuyển, vậy mà lại rung chuyển, chấn động và lắc mạnh.”

Bấy giờ, Thế Tôn đến chỗ các Tỳ khưu ấy và hỏi:

“Này các Tỳ khưu, vì sao các Thầy đứng sang một bên, kinh hãi và hoảng sợ như vậy?”

“Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Thật vi diệu! Không có gió, mà lâu đài của mẹ Migāra này có nền móng sâu, được xây dựng vững chắc, bất động, không rung chuyển, vậy mà lại rung chuyển, chấn động và lắc mạnh.”

“Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Moggallāna muốn khơi dậy ý thức cấp thiết cho các Thầy, nên đã dùng ngón chân cái làm cho Migāramātupāsāde rung chuyển, chấn động và lắc mạnh. Này các Tỳ khưu, các Thầy nghĩ thế nào? Nhờ tu tập và làm cho sung mãn những pháp gì mà Tỳ khưu Moggallāna trở nên có đại thần lực, đại uy lực như vậy?”

“Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc rễ, lấy Thế Tôn làm hướng dẫn, nương tựa vào Thế Tôn. Lành thay nếu Thế Tôn giải thích rõ ý nghĩa của câu hỏi này. Sau khi được nghe từ Ngài, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.”

“Vậy hãy lắng nghe, này các Tỳ khưu…

Chính vì Tỳ khưu Moggallāna đã tu tập và làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực nên vị ấy trở nên có đại thần lực, đại uy lực. Bốn nền tảng ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Moggallāna tu tập nền tảng thần lực có sự định do dục, cùng với các nỗ lực kết thành, nghĩ rằng: ‘Như vậy, dục của ta sẽ không quá lỏng lẻo cũng không quá căng thẳng; nó sẽ không bị co rút bên trong cũng không bị tán loạn bên ngoài.’ Và ông ấy trú, quán trước sau: ‘Như trước, như sau; như sau, như trước; như dưới, như trên; như trên, như dưới; như ban ngày, như ban đêm; như ban đêm, như ban ngày.’ Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng chói sáng.

Vị ấy tu tập nền tảng thần lực có sự định do tinh tấn… do tâm… do tuệ… cùng với các nỗ lực kết thành, và tu tập tâm có ánh sáng chói sáng.

Này các Tỳ khưu, chính vì Tỳ khưu Moggallāna đã tu tập và làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực này mà ông ấy trở nên có đại thần lực, đại uy lực.

Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực này mà Tỳ khưu Moggallāna chứng được các loại thần thông khác nhau: từ một thân biến thành nhiều thân… thực hành sự tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên…

Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn nền tảng thần lực này mà Tỳ khưu Moggallāna, nhờ sự diệt trừ các lậu hoặc, ngay trong đời hiện tại chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí.”

Chú Thích

Migāramātupāsāda có nghĩa là "Lâu đài của mẹ Migāra". “Mẹ Migāra” là mỹ danh của nữ thí chủ Visākha: Người xây dựng và dâng cúng giảng đường này là bà Visākha, nữ thí chủ đệ nhất của Đức Phật. Tại sao gọi là "Mẹ Migāra"?  vốn là tên của cha chồng bà Visākha. Ông vốn là người theo ngoại đạo, nhưng nhờ sự dẫn dắt của bà, ông đã quy hướng Tam bảo và đắc quả Tu-đà-hoàn. Để bày tỏ lòng tri ân, ông tôn kính bà như người mẹ tinh thần và gọi bà là "Migāramātā" (Mẹ của Migāra). Từ đó, giảng đường bà xây dựng mang tên này. Trong kinh chữ Hán thường dịch là Giảng đường Lộc Mẫu vì Migāra nghĩa đen là con nai (đúng ra tên riêng thì không nên dịch nghĩa ngoại trừ lý do cần thiết nào đó (…). Đây là một trong những thánh tích quan trọng nhất tại Sāvatthī (Xá-vệ), nơi Đức Phật đã lưu trú trong nhiều mùa an cư kiết hạ và thuyết giảng nhiều bài kinh quan trọng.

Migāramātupāsāda nằm trong tu viện Pubbārāma (Đông Viên), phía Đông thành Sāvatthī. Đây là đối trọng với tu viện Jetavana (Kỳ Viên) nằm ở phía Tây.

Bà Visākha đã bán chiếc áo choàng quý giá nhất của mình (Mahālatā-pasādhana) với giá 90 triệu đồng vàng để lấy kinh phí xây dựng.

Migāramātupāsāda có hai tầng, mỗi tầng có 500 phòng (tổng cộng 1.000 phòng).Công trình được trang trí lộng lẫy, kiên cố và có nền móng rất sâu (như đã mô tả trong chú giải về thần thông của ngài Mục-kiền-liên).Đức Phật thường ở tầng trên, còn các Tỳ-khưu lưu trú ở tầng trệt. Chính vì sự nguy nga của pháp xá nầy nên gọi là pāsāda mà nhiều bản kinh dịch là “lâu đài”

 Nhiều bài kinh quan trọng được thuyết tại đây, bao gồm các bài kinh về Bốn Pháp Thần Túc, các bài kinh về Tánh Không (như Tiểu Không Kinh - Cūḷasuññata Sutta), và nhiều hướng dẫn dành cho hàng cư sĩ. Đức Phật đã trải qua tổng cộng 6 mùa an cư tại giảng đường này (trong tổng số 24 mùa an cư tại Sāvatthī).

Một phần của bài kinh được chánh văn rút gọn mô tả về lục thông của Tôn giả Moggallāna.

Sớ giải mô tả tình trạng yếu kém trong sự tu tập của một số Tỳ khưu ở tầng dưới pháp xá Migāramātupāsāda. Đây không phải là những vị ác xấu mà là sự thiếu tu tập nghiêm túc rất thường xẩy ra trong các chùa chiền (bất an, kiêu mạn, phóng dật, thất niệm, thiếu định…).

Sớ giải cũng chú thích cách Tôn giả Mahāmoggallāna dùng thần thông (làm rung chuyển lâu đài) để khơi dậy ý thức cấp thiết (saṃvega) cho họ. Đồng thời, đoạn chú cũng phân tích rõ ý nghĩa của từng từ chỉ trích mà Đức Phật dùng để mô tả tâm trạng buông lung, thiếu tu tập của các Tỳ khưu.

Sớ Giải

826. catutthe uddhatāti uddhaccapakatikā vipphandamānacittā. uddhaccena hi ekārammaṇe cittaṃ vipphandati dhajayaṭṭhiyaṃ vātena pahatadhajo viya. unnaḷāti uggatanaḷā, uṭṭhitatucchamānāti vuttaṃ hoti. capalāti pattacīvaramaṇḍanādicāpallena yuttā. mukharāti mukhakharā, kharavacanāti vuttaṃ hoti. vikiṇṇavācāti asaṃyatavacanā divasampi niratthakavacanappalāpino. muṭṭhassatīti naṭṭhassatino.
asampajānāti paññārahitā. asamāhitāti upacārappanāsamādhivirahitā. bhantacittāti ubbhantacittā samādhivirahena laddhokāsena uddhaccena. pākatindriyāti asaṃvutindriyā. iddhābhisaṅkhāranti āpokasiṇaṃ samāpajjitvā vuṭṭhāya pāsādapatiṭṭhitaṃ pathavibhāgaṃ “udakan”ti adhiṭṭhāya, udakapiṭṭhe ṭhitapāsādaṃ vehāsaṃ abbhuggantvā aṅguṭṭhakena pahari. gambhīranemoti gambhīrāavāṭo, gambhīrabhūmibhāgaṃ anupaviṭṭhoti attho. sunikhātoti suṭṭhu nikhāto, koṭṭetvā suṭṭhu ṭhapito. idha abhiññāpādakiddhi kathitā.

826. Trong bài kinh thứ tư,

“Uddhatā” nghĩa là những người có tính chất dao dộng (uddhacca), tâm thường không yên. Tâm của họ bị phóng dật làm cho rung động, lung lay trên một đối tượng, giống như ngọn cờ bị gió thổi lay mạnh trên cây cột cờ.

“Unnaḷā” nghĩa là kiêu mạn, ngạo mạn, tự cao tự đại, giống như cây lau sậy mọc cao nhưng ruột rỗng (chỉ có hình thức bên ngoài mà không có nội dung).

“Capalā” nghĩa là hay thay đổi, không vững chãi, hay chuộng sự trang sức bên ngoài như y phục, bát, chỗ ở… (thích làm đẹp bề ngoài).

“Mukharā” nghĩa là miệng lưỡi thô lỗ, nói năng gay gắt, lời nói cứng rắn, thiếu từ hòa.

 “Vikiṇṇavācā” nghĩa là nói năng lan man, không kiểm soát, suốt ngày nói những lời vô ích, ba hoa, không có ý chính rõ ràng.

 “Muṭṭhassati” nghĩa là thất niệm, mất chánh niệm.

 “Asampajāna” nghĩa là thiếu tỉnh giác, không có trí tuệ sáng suốt.

“Asamāhita” nghĩa là không có định, thiếu cả cận định (upacāra-samādhi) lẫn an chỉ định (appanā-samādhi).

“Bhantacitta” nghĩa là tâm bị xáo động, tán loạn, vì thiếu định nên phóng dật có cơ hội trỗi dậy mạnh mẽ.

“Pākatindriya” nghĩa là các căn không được chế ngự, không được bảo vệ, để lộ ra ngoài.

“Iddhābhisaṅkhāra nghĩa là sự tạo tác thần thông. Tôn giả Mahāmoggallāna nhập vào thiền án nước (āpokasiṇa), xuất định, rồi biến một phần đất dưới nền lâu đài thành nước, sau đó dùng ngón chân cái làm rung chuyển cả lâu đài đang đứng trên mặt nước ấy.

“Gambhīranemo” nghĩa là có nền móng sâu, được chôn sâu vào lòng đất.

“Sunikhāto” nghĩa là được đóng xuống rất chắc chắn, được xây dựng kiên cố.

Trong bài kinh này, Đức Phật đang nói về thần thông dựa trên thắng trí (abhiññāpādaka-iddhi), tức là thần thông xuất phát từ sức mạnh của tuệ giác và thiền định bậc cao.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Như Ý Túc

-ooOoo-

II. Phẩm Lầu Rung Chuyển

 

14.IV. Moggalàna (S.v,269)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Ðông Viên, lâu đài của mẹ Migàra.

2) Lúc bấy giờ, một số Tỷ-kheo trú ở dưới lầu của mẹ Migàra, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm miệng, tạp thoại, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm mê loạn, các căn không chế ngự (pàkatindriyà).

3) Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Này Moggalàna, những đồng Phạm hạnh ấy trú dưới lầu của mẹ Migàra, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm miệng, tạp thoại, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm mê loạn, các căn không chế ngự. Hãy đi, này Moggalàna, và làm cho họ hoảng hốt (samvejeti).

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn, thực hiện thần thông, với ngón chân lớn, làm cho rung động, rung chuyển, làm cho chấn động lâu đài của mẹ Migàra.

4) Rồi các Tỷ-kheo ấy hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, họ đứng về một bên và (la lớn): "Thật là vi diệu, chư Tôn giả! Thật là hy hữu, chư Tôn giả! Lâu đài của mẹ Migàra này được che chở khỏi gió, được khéo đào những nền móng thâm sâu, không có dao động, không có chuyển động. Tuy vậy, nó rung động, rung chuyển, chấn động!"

5) Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến nói với họ:

-- Này các Tỷ-kheo, tại sao các Ông lại hốt hoảng, lông tóc dựng ngược, và đứng về một bên như vậy?

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Lâu đài của mẹ Migàra được che chở khỏi gió, được khéo đào thành những nền móng thâm sâu, không có dao động, không có chuyển động. Tuy vậy nó rung động, rung chuyển, chấn động.

6) -- Này các Tỷ-kheo, chính do Tỷ-kheo Moggalàna muốn làm cho các Ông hoảng hốt, với ngón chân lớn, đã làm cho lâu đài này của mẹ Migàra bị rung chuyển, rung động, bị chấn động. Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn những pháp nào, Tỷ-kheo Moggalàna có đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo... sau khi nghe pháp, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

7) -- Vậy hãy nghe, này các Tỷ-kheo. Chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc, Tỷ-kheo Moggalàna đã có đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Thế nào là bốn?

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Moggalàna tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... Tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành (với ý nghĩ): "Như vậy, tư duy của ta sẽ không quá thụ động, cũng không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, an trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào thời dưới như vậy. Ban ngày thế nào, thời ban đêm như vậy; ban đêm thế nào, thời ban ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, không với tâm gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

9) Này các Tỷ-kheo, chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy.

10) Và này các Tỷ-kheo, cũng chính do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna thực hiện nhiều loại thần thông... có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

11) Và chính nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Tỷ-kheo Moggalàna do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

12) (Sáu thần thông được thuyết rộng ra như vậy).