|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 08 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 642. Ý MUỐN TRONG CUỘC TU - Kinh Bà-la-môn Uṇṇābha (Uṇṇābhabrāhmaṇasuttaṃ) .
Bài kinh này là một biện chứng pháp rất hay của Tôn giả Ānanda.
Bà-la-môn Uṇṇābha dùng logic thông thường để phản bác: “Làm sao
có thể diệt dục bằng chính dục được? Đây là việc không có hồi
kết!” Tôn giả Ānanda không tranh luận trực tiếp mà dùng một ẩn
dụ gần gũi (upamā): chính dục, tinh tấn, tâm, và quán sát mà
bà-la-môn dùng để đi đến vườn, khi đến nơi rồi thì chúng tự
nhiên lắng xuống. Tương tự, bốn thần túc (chanda, vīriya, citta,
vīmaṃsā) được dùng như phương tiện để đạt A-la-hán quả; khi mục
đích đạt được, chính những “dục” và “tinh tấn” hướng đến giác
ngộ ấy cũng tự nhiên lắng xuống. Đây là ví dụ điển hình về cách
tham dục cao thượng (kusala chanda) có thể dẫn đến sự đoạn trừ
tham dục thấp kém (akusala chanda). Con đường không phải là
“diệt dục bằng không dục”, mà là dùng dục đúng đắn (dục cầu giải
thoát) làm nền tảng cho sự tu tập, đưa đến sự diệt dục hoàn
toàn.
Kinh Văn 827.
evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ āyasmā ānando kosambiyaṃ viharati
ghositārāme. atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yenāyasmā ānando
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṃ sammodi.
sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo āyasmantaṃ ānandaṃ
etadavoca — “kimatthiyaṃ nu kho, bho ānanda, samaṇe gotame
brahmacariyaṃ vussatī”ti? “chandappahānatthaṃ kho, brāhmaṇa,
bhagavati brahmacariyaṃ vussatī”ti. Tôi được nghe như vầy. Một thuở, Tôn giả Ānanda đang trú ở
Kosambī, tại vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Uṇṇābha đi đến
chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi
thân hữu và lịch sự rồi ngồi xuống một bên. Ông thưa với Tôn giả
Ānanda: "Thưa Tôn giả Ānanda, mục đích của việc
sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Gotama là gì?" "Này Bà-la-môn, mục đích sống đời phạm hạnh
dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn là để đoạn tận ham muốn (chanda)." "Thưa Tôn giả Ānanda, có con đường nào, có
lộ trình nào để đoạn tận ham muốn ấy không?" "Này Bà-la-môn, có con đường, có lộ trình
để đoạn tận ham muốn ấy." "Thưa Tôn giả Ānanda, con đường ấy là gì,
lộ trình ấy là gì?" "Ở đây, này Bà-la-môn, một Tỳ-khưu tu tập
Thần túc pháp sở hữu Định do Dục (chanda) và các hành tinh tấn;
tu tập Thần túc pháp sở hữu Định do Tấn (viriya)... Định do Tâm
(citta)... Định do Thẩm (vīmaṃsā) và các hành tinh tấn. Đây
chính là con đường, đây là lộ trình để đoạn tận ham muốn ấy." "Thưa Tôn giả Ānanda, nếu như vậy thì đây
là một tiến trình không có hồi kết, chứ không phải có điểm dừng.
Bởi vì dùng chính ham muốn để đoạn tận ham muốn là điều không
thể." "Này Bà-la-môn, ta sẽ hỏi ông về việc này,
hãy trả lời theo cách ông thấy phù hợp. Ông nghĩ thế nào, trước
đây ông có ý muốn (dục) rằng: 'Ta sẽ đi đến khu vườn này' không?
Và sau khi ông đã đến vườn rồi, ý muốn tương ứng đó có lắng dịu
(chấm dứt) không?" "Thưa Tôn giả, có." "Trước đây ông có khởi lên tinh tấn rằng:
'Ta sẽ đi đến khu vườn này' không? Và sau khi ông đã đến vườn
rồi, sự tinh tấn tương ứng đó có lắng dịu không?" "Thưa Tôn giả, có." "Trước đây ông có quyết tâm (tâm) rằng: 'Ta
sẽ đi đến khu vườn này' không? Và sau khi ông đã đến vườn rồi,
quyết tâm tương ứng đó có lắng dịu không?" "Thưa Tôn giả, có." "Trước đây ông có sự thẩm sát rằng: 'Liệu
ta có nên đi đến khu vườn này không?' không? Và sau khi ông đã
đến vườn rồi, sự thẩm sát tương ứng đó có lắng dịu không?" "Thưa Tôn giả, có." "Này Bà-la-môn, sự việc cũng chính xác như
vậy đối với một vị Tỳ-khưu là bậc A-la-hán, bậc đã đoạn tận các
lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã
đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu tối hậu, đã phá tan
các kiết sử của hữu, và hoàn toàn giải thoát nhờ thắng trí.
Trước đây vị ấy có ý muốn (chanda) đạt được quả vị A-la-hán, và
khi vị ấy đã đạt được quả vị A-la-hán, ý muốn tương ứng đó liền
lắng dịu. Vị ấy trước đây có khởi lên tinh tấn... có quyết
tâm... có sự thẩm sát để đạt quả vị A-la-hán, và khi đã đạt được
rồi, các pháp tương ứng đó liền lắng dịu. Này Bà-la-môn, ông nghĩ thế nào, như vậy
thì tiến trình này là có điểm dừng hay không có hồi kết?" "Thưa Tôn giả Ānanda, chắc chắn như vậy là
có điểm dừng, không phải vô tận. Thật vi diệu thay, Tôn giả
Ānanda!... Kể từ nay, xin Tôn giả hãy ghi nhận cho con là một
nam cư sĩ trọn đời nương tựa Tam Bảo."
Chú Thích
Uṇṇābha,
một vị Bà-la-môn giỏi về lý luận. Trong bài kinh nầy, ông đến
gặp Tôn giả Ānanda tại Kosambī. Ông hỏi Tôn giả Ānanda mục đích
của đời sống phạm hạnh là gì. Khi được trả lời rằng đó là sự
đoạn trừ dục nhờ thiền định (jhāna), ông cho rằng như vậy sẽ là
một công việc không có điểm kết thúc. Nhưng Tôn giả Ānanda, bằng
một ví dụ minh họa, đã giải thích rằng công việc ấy thực sự có
thể chấm dứt, và Uṇṇābha bày tỏ sự hoan hỷ sâu sắc đối với lời
giải đáp ấy. Sau nầy, ông đến yết kiến Đức Phật tại
Sāvatthī và hỏi Ngài rằng năm căn (indriyāni), vốn có phạm vi và
chức năng khác nhau, có một chỗ nương tựa chung (patisaraṇa) hay
không. Đức Phật trả lời rằng tâm chính là chỗ nương tựa chung
của chúng, và khi được hỏi thêm, Ngài giải thích rằng không có
gì vượt hơn Niết-bàn, và đời sống phạm hạnh lấy Niết-bàn làm cứu
cánh tối hậu. Khi vị Bà-la-môn ấy, hết sức hoan hỷ với lời dạy
của Đức Phật, cáo từ ra về, Đức Phật nói với các Tỳ-khưu rằng
Uṇṇābha đã chứng đắc quả Bất Lai (Anāgāmī), và do vậy, sau khi
thân hoại mạng chung, sẽ không còn trở lại thế gian này nữa
(S.v.217tt- Tương Ưng Bộ Kinh, tập V, trang 217 và các trang
tiếp theo). Bài kinh này là một cách lập luận thú vị
của Tôn giả Ānanda. Bà-la-môn Uṇṇābha dùng logic thông thường để
phản bác: “Làm sao có thể diệt dục bằng chính dục được? Đây là
việc không có hồi kết!” Tôn giả Ānanda không tranh luận trực
tiếp mà dùng một ẩn dụ gần gũi (upamā): chính dục, tinh tấn,
tâm, và quán sát mà bà-la-môn dùng để đi đến vườn, khi đến nơi
rồi thì chúng tự nhiên lắng xuống. Tương tự, bốn thần túc
(chanda, vīriya, citta, vīmaṃsā) được dùng như phương tiện để
đạt A-la-hán quả; khi mục đích đạt được, chính những “dục” và
“tinh tấn” hướng đến giác ngộ ấy cũng tự nhiên lắng xuống. Đây
là ví dụ điển hình về cách tham dục cao thượng (kusala chanda)
có thể dẫn đến sự đoạn trừ tham dục thấp kém (akusala chanda).
Con đường không phải là “diệt dục bằng không dục”, mà là dùng
dục đúng đắn (dục cầu giải thoát) làm nền tảng cho bốn thần túc,
đưa đến sự diệt dục hoàn toàn.
Chandappahānatthanti taṇhāchandassa pahānatthaṃ.
Chanda ở đây được chia thành hai loại quan trọng:
a.
Taṇhāchanda (tham dục): Dục tham ái,
dục thấp kém, dục thuộc phiền não (akusala chanda) – chính là
đối tượng cần đoạn trừ.
b.
Kusalachanda hoặc dhammachanda (dục
thiện, pháp dục): Dục muốn tu tập, dục cầu giác ngộ, dục hướng
đến giải thoát – đây là phương tiện (upāya). Sớ giải nhấn mạnh: Mục đích của bài kinh
là chỉ rõ cách dùng chanda thiện (bốn thần túc) để đoạn trừ
taṇhāchanda (tham dục). Không phải “diệt dục bằng không dục”, mà
là dùng dục cao thượng để diệt dục thấp kém. Sớ giải đưa ra cụm từ “Idhāpi
vivaṭṭapādakiddhi kathitā” (Vivaṭṭa = sự thoát ly luân hồi, sự
hướng đến Niết-bàn (ngược với vaṭṭa = luân hồi) + Pādaka = nền
tảng, căn bản + Iddhi = thần lực, thần thông (ở đây không phải
thần thông biểu hiện, mà là sức mạnh tu tập dẫn đến giải thoát).
Như vậy Vivaṭṭapādakiddhi nghĩa là thần lực (iddhi) có nền tảng
hướng đến sự thoát ly luân hồi, tức là tứ thần túc (bốn nền tảng
thần lực) được tu tập với mục tiêu Niết-bàn.
Sớ Giải
827. pañcame chandappahānatthanti
taṇhāchandassa pahānatthaṃ. idhāpi vivaṭṭapādakiddhi kathitā.
“Trong bài kinh thứ năm (pañcame),
‘chandappahānatthaṃ’ có nghĩa là vì mục đích đoạn trừ tham dục (taṇhāchanda). Ở đây cũng nói về thần lực hướng đến sự thoát ly luân
hồi (vivaṭṭapādakiddhi).”
|