BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 08 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 51. Tương Ưng Thần Túc-Phẩm Chấn Động Ngôi Đền - SN 51.15-
Bài 642. Ý MUỐN TRONG CUỘC TU -

Kinh Bà-la-môn Uṇṇābha (Uṇṇābhabrāhmaṇasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-642.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh này là một biện chứng pháp rất hay của Tôn giả Ānanda. Bà-la-môn Uṇṇābha dùng logic thông thường để phản bác: “Làm sao có thể diệt dục bằng chính dục được? Đây là việc không có hồi kết!” Tôn giả Ānanda không tranh luận trực tiếp mà dùng một ẩn dụ gần gũi (upamā): chính dục, tinh tấn, tâm, và quán sát mà bà-la-môn dùng để đi đến vườn, khi đến nơi rồi thì chúng tự nhiên lắng xuống. Tương tự, bốn thần túc (chanda, vīriya, citta, vīmaṃsā) được dùng như phương tiện để đạt A-la-hán quả; khi mục đích đạt được, chính những “dục” và “tinh tấn” hướng đến giác ngộ ấy cũng tự nhiên lắng xuống. Đây là ví dụ điển hình về cách tham dục cao thượng (kusala chanda) có thể dẫn đến sự đoạn trừ tham dục thấp kém (akusala chanda). Con đường không phải là “diệt dục bằng không dục”, mà là dùng dục đúng đắn (dục cầu giải thoát) làm nền tảng cho sự tu tập, đưa đến sự diệt dục hoàn toàn.

Kinh Văn

 827. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ āyasmā ānando kosambiyaṃ viharati ghositārāme. atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca — “kimatthiyaṃ nu kho, bho ānanda, samaṇe gotame brahmacariyaṃ vussatī”ti? “chandappahānatthaṃ kho, brāhmaṇa, bhagavati brahmacariyaṃ vussatī”ti.
“atthi pana, bho ānanda, maggo atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti? “atthi kho, brāhmaṇa, maggo atthi paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“katamo pana, bho ānanda, maggo katamā paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti? “idha, brāhmaṇa, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti — ayaṃ kho, brāhmaṇa, maggo ayaṃ paṭipadā etassa chandassa pahānāyā”ti.
“evaṃ sante, bho ānanda, santakaṃ hoti no asantakaṃ. chandeneva chandaṃ pajahissatīti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati”. “tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. yathā te khameyya tathā taṃ byākareyyāsi. taṃ kiṃ maññasi, brāhmaṇa, ahosi te pubbe chando ‘ārāmaṃ gamissāmī’ti? tassa te ārāmagatassa yo tajjo chando so paṭippassaddho”ti? “evaṃ, bho”. “ahosi te pubbe vīriyaṃ ‘ārāmaṃ gamissāmī’ti? tassa te ārāmagatassa yaṃ tajjaṃ vīriyaṃ taṃ paṭippassaddhan”ti? “evaṃ, bho”. “ahosi te pubbe cittaṃ ‘ārāmaṃ gamissāmī’ti? tassa te ārāmagatassa yaṃ tajjaṃ cittaṃ taṃ paṭippassaddhan”ti? “evaṃ, bho”. “ahosi te pubbe vīmaṃsā ‘ārāmaṃ gamissāmī’ti? tassa te ārāmagatassa yā tajjā vīmaṃsā sā paṭippassaddhā”ti? “evaṃ, bho”.
“evameva kho, brāhmaṇa, yo so bhikkhu arahaṃ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṃyojano sammadaññā vimutto, tassa yo pubbe chando ahosi arahattappattiyā, arahattappatte {arahatte patte (sī. syā. kaṃ.)} yo tajjo chando so paṭippassaddho; yaṃ pubbe vīriyaṃ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṃ tajjaṃ vīriyaṃ taṃ paṭippassaddhaṃ; yaṃ pubbe cittaṃ ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yaṃ tajjaṃ cittaṃ taṃ paṭippassaddhaṃ; yā pubbe vīmaṃsā ahosi arahattappattiyā, arahattappatte yā tajjā vīmaṃsā sā paṭippassaddhā. taṃ kiṃ maññasi, brāhmaṇa, iti evaṃ sante, santakaṃ vā hoti no asantakaṃ vā”ti?
“addhā, bho ānanda, evaṃ sante, santakaṃ hoti no asantakaṃ. abhikkantaṃ, bho ānanda, abhikkantaṃ, bho ānanda! seyyathāpi, bho ānanda, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya — cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṃ bhotā ānandena anekapariyāyena dhammo pakāsito. esāhaṃ, bho ānanda, taṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. upāsakaṃ maṃ bhavaṃ ānando dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti. pañcamaṃ.

Tôi được nghe như vầy.

Một thuở, Tôn giả Ānanda đang trú ở Kosambī, tại vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Uṇṇābha đi đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự rồi ngồi xuống một bên. Ông thưa với Tôn giả Ānanda:

"Thưa Tôn giả Ānanda, mục đích của việc sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Gotama là gì?"

"Này Bà-la-môn, mục đích sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn là để đoạn tận ham muốn (chanda)."

"Thưa Tôn giả Ānanda, có con đường nào, có lộ trình nào để đoạn tận ham muốn ấy không?"

"Này Bà-la-môn, có con đường, có lộ trình để đoạn tận ham muốn ấy."

"Thưa Tôn giả Ānanda, con đường ấy là gì, lộ trình ấy là gì?"

"Ở đây, này Bà-la-môn, một Tỳ-khưu tu tập Thần túc pháp sở hữu Định do Dục (chanda) và các hành tinh tấn; tu tập Thần túc pháp sở hữu Định do Tấn (viriya)... Định do Tâm (citta)... Định do Thẩm (vīmaṃsā) và các hành tinh tấn. Đây chính là con đường, đây là lộ trình để đoạn tận ham muốn ấy."

"Thưa Tôn giả Ānanda, nếu như vậy thì đây là một tiến trình không có hồi kết, chứ không phải có điểm dừng. Bởi vì dùng chính ham muốn để đoạn tận ham muốn là điều không thể."

"Này Bà-la-môn, ta sẽ hỏi ông về việc này, hãy trả lời theo cách ông thấy phù hợp. Ông nghĩ thế nào, trước đây ông có ý muốn (dục) rằng: 'Ta sẽ đi đến khu vườn này' không? Và sau khi ông đã đến vườn rồi, ý muốn tương ứng đó có lắng dịu (chấm dứt) không?"

"Thưa Tôn giả, có."

"Trước đây ông có khởi lên tinh tấn rằng: 'Ta sẽ đi đến khu vườn này' không? Và sau khi ông đã đến vườn rồi, sự tinh tấn tương ứng đó có lắng dịu không?"

"Thưa Tôn giả, có."

"Trước đây ông có quyết tâm (tâm) rằng: 'Ta sẽ đi đến khu vườn này' không? Và sau khi ông đã đến vườn rồi, quyết tâm tương ứng đó có lắng dịu không?"

"Thưa Tôn giả, có."

"Trước đây ông có sự thẩm sát rằng: 'Liệu ta có nên đi đến khu vườn này không?' không? Và sau khi ông đã đến vườn rồi, sự thẩm sát tương ứng đó có lắng dịu không?"

"Thưa Tôn giả, có."

"Này Bà-la-môn, sự việc cũng chính xác như vậy đối với một vị Tỳ-khưu là bậc A-la-hán, bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu tối hậu, đã phá tan các kiết sử của hữu, và hoàn toàn giải thoát nhờ thắng trí. Trước đây vị ấy có ý muốn (chanda) đạt được quả vị A-la-hán, và khi vị ấy đã đạt được quả vị A-la-hán, ý muốn tương ứng đó liền lắng dịu. Vị ấy trước đây có khởi lên tinh tấn... có quyết tâm... có sự thẩm sát để đạt quả vị A-la-hán, và khi đã đạt được rồi, các pháp tương ứng đó liền lắng dịu.

Này Bà-la-môn, ông nghĩ thế nào, như vậy thì tiến trình này là có điểm dừng hay không có hồi kết?"

"Thưa Tôn giả Ānanda, chắc chắn như vậy là có điểm dừng, không phải vô tận. Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda!... Kể từ nay, xin Tôn giả hãy ghi nhận cho con là một nam cư sĩ trọn đời nương tựa Tam Bảo."

Chú Thích

Uṇṇābha, một vị Bà-la-môn giỏi về lý luận. Trong bài kinh nầy, ông đến gặp Tôn giả Ānanda tại Kosambī. Ông hỏi Tôn giả Ānanda mục đích của đời sống phạm hạnh là gì. Khi được trả lời rằng đó là sự đoạn trừ dục nhờ thiền định (jhāna), ông cho rằng như vậy sẽ là một công việc không có điểm kết thúc. Nhưng Tôn giả Ānanda, bằng một ví dụ minh họa, đã giải thích rằng công việc ấy thực sự có thể chấm dứt, và Uṇṇābha bày tỏ sự hoan hỷ sâu sắc đối với lời giải đáp ấy.

Sau nầy, ông đến yết kiến Đức Phật tại Sāvatthī và hỏi Ngài rằng năm căn (indriyāni), vốn có phạm vi và chức năng khác nhau, có một chỗ nương tựa chung (patisaraṇa) hay không. Đức Phật trả lời rằng tâm chính là chỗ nương tựa chung của chúng, và khi được hỏi thêm, Ngài giải thích rằng không có gì vượt hơn Niết-bàn, và đời sống phạm hạnh lấy Niết-bàn làm cứu cánh tối hậu. Khi vị Bà-la-môn ấy, hết sức hoan hỷ với lời dạy của Đức Phật, cáo từ ra về, Đức Phật nói với các Tỳ-khưu rằng Uṇṇābha đã chứng đắc quả Bất Lai (Anāgāmī), và do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ không còn trở lại thế gian này nữa (S.v.217tt- Tương Ưng Bộ Kinh, tập V, trang 217 và các trang tiếp theo).

Bài kinh này là một cách lập luận thú vị của Tôn giả Ānanda. Bà-la-môn Uṇṇābha dùng logic thông thường để phản bác: “Làm sao có thể diệt dục bằng chính dục được? Đây là việc không có hồi kết!”

Tôn giả Ānanda không tranh luận trực tiếp mà dùng một ẩn dụ gần gũi (upamā): chính dục, tinh tấn, tâm, và quán sát mà bà-la-môn dùng để đi đến vườn, khi đến nơi rồi thì chúng tự nhiên lắng xuống. Tương tự, bốn thần túc (chanda, vīriya, citta, vīmaṃsā) được dùng như phương tiện để đạt A-la-hán quả; khi mục đích đạt được, chính những “dục” và “tinh tấn” hướng đến giác ngộ ấy cũng tự nhiên lắng xuống. Đây là ví dụ điển hình về cách tham dục cao thượng (kusala chanda) có thể dẫn đến sự đoạn trừ tham dục thấp kém (akusala chanda). Con đường không phải là “diệt dục bằng không dục”, mà là dùng dục đúng đắn (dục cầu giải thoát) làm nền tảng cho bốn thần túc, đưa đến sự diệt dục hoàn toàn.

Chandappahānatthanti taṇhāchandassa pahānatthaṃ. Chanda ở đây được chia thành hai loại quan trọng:

a.    Taṇhāchanda (tham dục): Dục tham ái, dục thấp kém, dục thuộc phiền não (akusala chanda) – chính là đối tượng cần đoạn trừ.

b.    Kusalachanda hoặc dhammachanda (dục thiện, pháp dục): Dục muốn tu tập, dục cầu giác ngộ, dục hướng đến giải thoát – đây là phương tiện (upāya).

Sớ giải nhấn mạnh: Mục đích của bài kinh là chỉ rõ cách dùng chanda thiện (bốn thần túc) để đoạn trừ taṇhāchanda (tham dục). Không phải “diệt dục bằng không dục”, mà là dùng dục cao thượng để diệt dục thấp kém.

Sớ giải đưa ra cụm từ “Idhāpi vivaṭṭapādakiddhi kathitā” (Vivaṭṭa = sự thoát ly luân hồi, sự hướng đến Niết-bàn (ngược với vaṭṭa = luân hồi) + Pādaka = nền tảng, căn bản + Iddhi = thần lực, thần thông (ở đây không phải thần thông biểu hiện, mà là sức mạnh tu tập dẫn đến giải thoát). Như vậy Vivaṭṭapādakiddhi nghĩa là thần lực (iddhi) có nền tảng hướng đến sự thoát ly luân hồi, tức là tứ thần túc (bốn nền tảng thần lực) được tu tập với mục tiêu Niết-bàn.

Sớ Giải

827. pañcame chandappahānatthanti taṇhāchandassa pahānatthaṃ. idhāpi vivaṭṭapādakiddhi kathitā.

“Trong bài kinh thứ năm (pañcame), ‘chandappahānattha’ có nghĩa là vì mục đích đoạn trừ tham dục (tahāchanda). Ở đây cũng nói về thần lực hướng đến sự thoát ly luân hồi (vivaṭṭapādakiddhi).”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Như Ý Túc

-ooOoo-

II. Phẩm Lầu Rung Chuyển

15.V. Bà-La-Môn (S.v,271)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.

2) Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa với Tôn giả Ananda:

3) -- Do mục đích gì, thưa Tôn giả Ananda, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?

-- Với mục đích đoạn tận dục (chanda), này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama.

4) -- Có con đường gì, thưa Tôn giả Ananda, có đạo lộ gì đưa đến đoạn tận lòng dục?

-- Có con đường này, này Bà-la-môn, có đạo lộ này đưa đến đoạn tận lòng dục.

5) -- Con đường ấy là gì, thưa Tôn giả Ananda? Ðạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận lòng dục?

-- Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Ðây là con đường, này Bà-la-môn, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận lòng dục.

6) -- Sự thể là vậy, thưa Tôn giả Ananda, thời một công việc liên tục (santaka), không có chấm dứt. Lấy dục mà trừ dục, sự kiện như vậy không xẩy ra.

-- Này Bà-la-môn, về vấn đề này, tôi sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, xin hãy trả lời.

7) Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Có phải trước có lòng dục (ý muốn) nơi Ông, thúc đẩy Ông: "Ta sẽ đi đến khu vườn". Sau khi Ông đến khu vườn rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ?

-- Thưa vâng, Tôn giả.

-- Có phải trước có tinh tấn nơi Ông, thúc đẩy Ông: "Ta sẽ đi đến khu vườn". Sau khi Ông đến khu vườn, tinh tấn ấy được tịnh chỉ?

-- Thưa vâng, Tôn giả.

-- Có phải trước có tâm nơi Ông, thúc đẩy Ông: "Ta sẽ đi đến khu vườn". Sau khi Ông đến khu vườn, tâm ấy được tịnh chỉ?

-- Thưa vâng, Tôn giả.

-- Có phải trước có tư duy nơi Ông, thúc đẩy Ông: "Ta sẽ đi đến khu vườn". Sau khi Ông đến khu vườn, tư duy ấy được tịnh chỉ?

-- Thưa vâng, Tôn giả.

8) -- Cũng vậy này Bày-la-môn, khi Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn, chánh trí, giải thoát. Lòng dục mà vị ấy có trước để chứng được A-la-hán thì khi chứng được A-la-hán rồi, lòng dục ấy được tịnh chỉ. Sự tinh tấn mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tinh tấn ấy được tịnh chỉ. Tâm mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tâm ấy được tịnh chỉ. Tư duy mà vị ấy có trước để chứng đạt A-la-hán, thì khi chứng được A-la-hán rồi, tư duy ấy được tịnh chỉ.

9) Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự thể là vậy, thời một công việc có chấm dứt liên tục hay là một công việc không chấm dứt?

-- Thực vậy, thưa Tôn giả Ananda, sự thể là vậy, một công việc có chấm dứt, không phải là một công việc không chấm dứt.

10) Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda!... Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!