|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 09 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 644. THÂN TỨ ĐẠI VÀ THẦN LỰC - Kinh Quả Cầu Sắt (Ayoguḷasuttaṃ) . Kinh Con Đường (maggasuttaṃ)
Chương 51. Tương Ưng Thần Túc
– Phẩm Chấn Động Ngôi Đền- SN 51. 21
Lưu ý: Bài kinh nầy
mang ý
nghĩa trùng lập với những bài kinh trước về tứ thần túc nên chỉ
có bản dịch để tham khảo mà không có chú thích và dịch bản sớ
giải. Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, trước khi Ta giác ngộ,
khi Ta còn là một vị Bồ-tát, chưa thành Chánh đẳng giác, ý nghĩ
này đã khởi lên nơi Ta: ‘Đâu là con đường, đâu là pháp hành để phát
triển các thần túc?’ Rồi ý nghĩ này khởi lên nơi Ta: ‘Ở đây, một hành giả tu tập thần túc có
định do dục và các hành tinh tấn… (như đã nói đầy đủ ở §11)… tu
tập thần túc có định do trạch pháp và các nỗ lực kết cấu… Như vậy, với một tâm rộng mở, không bị che
phủ, vị ấy tu tập tâm được thấm nhuần ánh sáng.’ ‘Khi bốn thần túc đã được tu tập và phát
triển như vậy, một vị Tỳ khưu vận dụng các loại thần thông sai
biệt: từ một thân hiện thành nhiều thân; từ nhiều
thân trở lại một thân… vị ấy làm chủ thân này cho đến tận cõi
Phạm thiên….’ ‘Này
các Tỳ khưu, khi bốn thần túc đã được tu tập và phát triển như
vậy, một vị Tỳ khưu, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời
này chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải
thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí.’” (Sáu thắng trí
được triển khai thêm.)
Kinh Quả Cầu Sắt (Ayoguḷasuttaṃ) Chương 51. Tương Ưng Thần Túc – Phẩm Thiết Cầu- SN 51. 22 Bài kinh “Quả Cầu Sắt” là một trong những đoạn kinh đẹp và sâu sắc nhất về mối quan hệ giữa tâm và thân trong Kinh Tạng. Qua cuộc đối thoại với Tôn giả Ānanda, Đức Phật đã khẳng định một sự thật vi diệu: ngay cả thân tứ đại – thân xác thô nặng do đất, nước, lửa, gió hợp thành – cũng có thể được chuyển hóa thành một trạng thái khinh an, nhu nhuyễn, dễ sử dụng và sáng chói nhờ sức mạnh của thiền định. Điều kỳ diệu nhất mà Đức Phật dạy là Ngài không chỉ có thể dùng thân do tâm tạo mà còn có thể dùng chính thân tứ đại này để bay lên hư không và đi đến cõi Phạm thiên. Sự kiện này phá tan quan niệm thông thường rằng thân vật lý là cứng nhắc, nặng nề và giới hạn. Khi Như Lai “nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân”, an trú với tưởng lạc và tưởng khinh an, thân Ngài trở nên nhẹ như nắm bông gòn và sáng chói như quả cầu sắt được nung đỏ. Hình ảnh quả cầu sắt và nắm bông gòn là hai ví dụ cực kỳ sinh động, vừa gần gũi vừa sâu sắc. Chúng cho thấy: thân không phải là chủ thể cố định, mà hoàn toàn có thể bị chi phối bởi tâm. Khi tâm đạt đến sự định sâu và thấm nhuần thân bằng niềm vui thiền và cảm giác khinh an, vật chất thô nặng cũng có thể trở nên tinh tế, linh hoạt và đầy quang minh.
Kinh Văn
834. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “abhijānāti nu kho,
bhante, bhagavā iddhiyā manomayena kāyena brahmalokaṃ
upasaṅkamitā”ti? “abhijānāmi khvāhaṃ, ānanda, iddhiyā manomayena
kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti. “abhijānāti pana, bhante,
bhagavā iminā cātumahābhūtikena kāyena iddhiyā brahmalokaṃ
upasaṅkamitā”ti? “abhijānāmi khvāhaṃ, ānanda, iminā
cātumahābhūtikena {cātummahābhūtikena (sī. syā. kaṃ.)} kāyena
iddhiyā brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti.
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi
xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với thân do tâm tạo mà
đi đến cõi Phạm thiên không?”
“Ta nhớ, này Ānanda, Ta đã dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến cõi
Phạm thiên.”
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với chính thân tứ đại
này mà đi đến cõi Phạm thiên không?”
“Ta nhớ, này Ānanda, Ta đã dùng thần lực với chính thân tứ đại này mà đi
đến cõi Phạm thiên.”
“Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn có thể dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi
đến cõi Phạm thiên, và việc Ngài nhớ đã dùng thần lực với chính
thân tứ đại này mà đi đến cõi Phạm thiên: đó thật là vi diệu và
hy hữu, bạch Thế Tôn, nơi Thế Tôn.”
“Này Ānanda, các Như Lai là những bậc vi diệu và có những phẩm chất vi
diệu; các Như Lai là những bậc hy hữu và có những phẩm chất hy
hữu.
“Này Ānanda, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi
Ngài thể nhập lạc
tưởng và khinh an
tưởng đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai trở nên
khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn.
“Này Ānanda, ví như một quả cầu sắt được nung nóng cả ngày, trở nên khinh
an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn. Cũng
vậy, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi
Như Lai an trú với sự tưởng lạc và sự tưởng khinh an đối với
thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai trở nên khinh an hơn, nhu
nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn.
“Này Ānanda, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi
thể nhập lạc tưởng
và khinh an tưởng
đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai bay lên từ mặt
đất vào hư không một cách không khó khăn. Ta chứng được các loại
thần thông: từ một biến thành nhiều; từ nhiều biến thành một…
Ngài thực hành tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.
“Này Ānanda, ví như một nắm bông gòn hoặc bông kapok, vì nhẹ, được gió
nâng đỡ, bay lên từ mặt đất vào hư không một cách không khó
khăn. Cũng vậy, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào
thân, và khi Ta thể nhập
lạc tưởng và
khinh an tưởng đối với
thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai bay lên từ mặt đất vào hư
không một cách không khó khăn. Ngài chứng được các loại thần
thông: từ một biến thành nhiều; từ nhiều biến thành một… Như Lai
hiển hoá tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.”
Chú Thích
Câu hỏi của Tôn
giả Ānanda có “abhijānāti nu kho, bhante, bhagavā iddhiyā
manomayena kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti?
Có động từ abhijānāti được dịch thành nhiều dị bản. Đây là điểm cần chú ý.
Theo Từ Điển Pali – English của Rhys David thì “abhijānāti:
knows fully or by experience; is aware. (abhi + ñā + nā) (biết
rõ, do trãi nghiệm, ghi nhận).
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu là “Bạch Thế Tôn,
Thế Tôn có biết làm thế nào
với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra?”
thoạt nghe thì ổn nhưng đối với một thì thánh sơ quả mà hỏi như
vậy thì có vẻ như thiếu hiểu biết về năng lực của một vị Toàn
giác. Bản Anh ngữ của ngài Bodhi thì dịch là: “Venerable sir,
does the Blessed One recall ever having gone to the brahmā world
by spiritual power with a mind-made body?”(“Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến
cõi Phạm thiên không?”). Bản chữ Hán dịch là “tự trãi thân trãi
nghiệm”; bản dịch Thái ngữ thì “tự ghi nhận”. Bản dịch nầy lấy
theo ý của ngài Bodhi.
Đây là trường hợp rất hiếm hoi mà câu hỏi nêu lên hai khả năng của thần lực:
Phẩm chất vi diệu và hy hữu của Như Lai. Đức Phật dạy rằng các Như Lai là những bậc vi diệu và hy hữu, không chỉ ở
trí tuệ mà còn ở khả năng làm chủ thân tâm một cách hoàn toàn.
Sự kiện Ngài có thể đưa thân tứ đại lên cõi Phạm thiên chính là
minh chứng cho phẩm chất siêu việt này.
Phương pháp chuyển
hóa thân tứ đại. Đức Phật chỉ rõ phương pháp then chốt:
“Nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân”, kết hợp với thể nhập
lạc tưởng (sukha-saññā)
và khinh an tưởng
(lahutā-saññā). Nhờ đó, thân tứ đại trở nên khinh an hơn, nhu
nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn. Chữ “tưởng – saññā”
không phải là nhớ lại mà là “thể nhập tâm thái với năng lực tam
muội định”
Ví dụ minh họa “Quả Cầu Sắt”. Đức Phật đưa ví dụ: Một quả cầu sắt nguội thì nặng, cứng và tối. Khi
được nung nóng cả ngày, nó trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn, dễ rèn
hơn và sáng chói hơn. Cũng vậy, khi thân được “nung” bằng thiền
định với tưởng lạc và tưởng khinh an, thân tứ đại sẽ thay đổi
hoàn toàn về chất.
Ví dụ minh họa “Nắm Bông Gòn” và kết quả thần thông. Như nắm bông gòn hoặc bông kapok rất nhẹ, chỉ cần gió nhẹ là bay lên hư
không. Khi thân đạt trạng thái khinh an, Đức Phật có thể bay lên
từ mặt đất vào hư không không khó khăn, và chứng được các loại
thần thông: từ một biến thành nhiều, từ nhiều biến thành một, và
thực hành tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.
Bài kinh khẳng định: Năng lực của thắng trí tam muội định
khó đo lường theo thường thức. Thân tứ đại vốn nặng
nề không phải là tuyệt đối. Nhờ tu tập thiền định đúng cách
(nhập thân-tâm, tưởng lạc và tưởng khinh an), ngay cả thân vật
lý cũng có thể trở nên nhẹ nhàng, linh hoạt và đầy quang minh.
Đây là lời khích lệ lớn lao cho người tu học: thân tâm có thể
được chuyển hóa, và thần thông không phải là điều xa vời nếu
biết rèn luyện đúng phương pháp.
Sớ Giải
834. tatiyavaggassa dutiye iminā
cātumahābhūtikenāti iminā catumahābhūtamayena evaṃ bhārikena
garukena samānenāpi. omātīti pahoti sakkoti, idaṃ tepiṭake
buddhavacane asambhinnapadaṃ. kāyampi citte samodahatīti kāyaṃ
gahetvā citte āropeti, cittasannissitaṃ karoti, cittagatiyā
peseti. cittaṃ nāma mahaggatacittaṃ, cittagatigamanaṃ lahukaṃ
hoti. cittampi kāye samodahatīti cittaṃ gahetvā kāye āropeti,
kāyasannissitaṃ karoti, kāyagatiyā peseti, kāyo nāma karajakāyo,
kāyagatigamanaṃ dandhaṃ hoti. sukhasaññañca lahusaññañcāti
abhiññācittasahajātasaññā. sā hi santasukhasamannāgatattā
sukhasaññā nāma hoti, kilesadandhāyitattassa ca abhāvā lahusaññā
nāma.
834. Trong bài kinh thứ hai của Tatiyavagga (Ayoguḷavagga), câu “iminā cātumahābhūtikenā”
nghĩa là: “Với thân thể do bốn đại chủng tạo thành này” – tức là
với thân thể nặng nề, thô kệch, nặng trịch như vậy, dù vẫn giữ
nguyên bản chất bốn đại.
“Omātī” tức là “có thể làm được”, “có khả
năng”. Đây là từ thuần túy, không pha tạp, xuất hiện nguyên vẹn
trong Tam Tạng Phật ngôn (tepiṭake buddhavacane
asambhinnapadaṃ).
“Kāyampi citte samodahatī” nghĩa là: lấy thân thể đặt vào trong tâm, làm cho thân nương tựa vào tâm,
điều khiển thân theo sự di chuyển của tâm. “Tâm” ở đây chỉ tâm
đáo đại (mahaggatacitta – tâm thiền, tâm chứng đắc). Sự di
chuyển theo tâm thì rất nhẹ nhàng.
“Cittampi kāye samodahatī” nghĩa là: lấy tâm đặt vào trong thân, làm cho tâm nương tựa vào thân,
điều khiển tâm theo sự di chuyển của thân. “Thân” ở đây chỉ thân
do nghiệp sinh (karajakāya – thân tứ đại do nghiệp tạo). Sự di
chuyển theo thân thì chậm chạp, nặng nề.
“Sukhasaññañca lahusaññañca” tức là thọ tưởng vui sướng và tưởng nhẹ nhàng sinh khởi
cùng với tâm diệu trí (abhiññācittasahajātasaññā). Vì tâm ấy đầy
đủ sự an lạc thanh tịnh nên gọi là sukhasaññā (lạc tưởng). Vì
không còn sự chậm chạp, nặng nề của phiền não nên gọi là
lahusaññā (khinh an tưởng).
Ví như quả cầu sắt (ayoguḷo) được nung
đỏ suốt cả ngày thì trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn và dễ thao tác
hơn. Quả cầu sắt ấy, dù ban đầu phải do hai ba người khiêng mới
nổi và ném vào lò rèn, nhưng khi đang bị nung đỏ, nhờ lửa (tejo)
xâm nhập vào các kẽ hở, nhờ gió (vāyo) hỗ trợ, trở thành
vāyosahagata (có gió đi kèm), usmāsahagata (có nhiệt độ đi kèm),
tejosahagata (có lửa đi kèm), nên trở nên nhẹ đến mức người thợ
rèn có thể dùng kìm lớn kẹp, lật qua lật lại, nhấc lên và đưa ra
ngoài một cách dễ dàng. Không những nhẹ, nó còn mềm mại (mudu)
và dễ làm việc (kammaniya) nữa. Người thợ có thể đập từng mảnh,
dùng búa gõ tạo ra các hình dáng dài, vuông, tròn… tùy ý.
Trong kinh này, thần thông biến hóa
(vikubbaniddhi) được nói đến.
|