BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 09 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 51. Tương Ưng Thần Túc-Phẩm Chấn Động Ngôi Đền - SN 51.22-
Bài 644. THÂN TỨ ĐẠI VÀ THẦN LỰC -

Kinh Quả Cầu Sắt (Ayoguḷasuttaṃ) .

  Kinh Con Đường (maggasuttaṃ)

Chương 51. Tương Ưng Thần Túc – Phẩm Chấn Động Ngôi Đền- SN 51. 21

Lưu ý: Bài kinh nầy mang ý nghĩa trùng lập với những bài kinh trước về tứ thần túc nên chỉ có bản dịch để tham khảo mà không có chú thích và dịch bản sớ giải.

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, trước khi Ta giác ngộ, khi Ta còn là một vị Bồ-tát, chưa thành Chánh đẳng giác, ý nghĩ này đã khởi lên nơi Ta:

‘Đâu là con đường, đâu là pháp hành để phát triển các thần túc?’

Rồi ý nghĩ này khởi lên nơi Ta:

‘Ở đây, một hành giả tu tập thần túc có định do dục và các hành tinh tấn… (như đã nói đầy đủ ở §11)… tu tập thần túc có định do trạch pháp và các nỗ lực kết cấu…

Như vậy, với một tâm rộng mở, không bị che phủ, vị ấy tu tập tâm được thấm nhuần ánh sáng.’

‘Khi bốn thần túc đã được tu tập và phát triển như vậy, một vị Tỳ khưu vận dụng các loại thần thông sai biệt:

từ một thân hiện thành nhiều thân; từ nhiều thân trở lại một thân… vị ấy làm chủ thân này cho đến tận cõi Phạm thiên….’

 ‘Này các Tỳ khưu, khi bốn thần túc đã được tu tập và phát triển như vậy, một vị Tỳ khưu, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí.’”

(Sáu thắng trí  được triển khai thêm.)

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-644.jpghttp://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngBài 644. THÂN TỨ ĐẠI VÀ THẦN LỰC

Kinh Quả Cầu Sắt (Ayoguḷasuttaṃ)

Chương 51. Tương Ưng Thần Túc – Phẩm Thiết Cầu- SN 51. 22

Bài kinh “Quả Cầu Sắt” là một trong những đoạn kinh đẹp và sâu sắc nhất về mối quan hệ giữa tâm và thân trong Kinh Tạng. Qua cuộc đối thoại với Tôn giả Ānanda, Đức Phật đã khẳng định một sự thật vi diệu: ngay cả thân tứ đại – thân xác thô nặng do đất, nước, lửa, gió hợp thành – cũng có thể được chuyển hóa thành một trạng thái khinh an, nhu nhuyễn, dễ sử dụng và sáng chói nhờ sức mạnh của thiền định. Điều kỳ diệu nhất mà Đức Phật dạy là Ngài không chỉ có thể dùng thân do tâm tạo mà còn có thể dùng chính thân tứ đại này để bay lên hư không và đi đến cõi Phạm thiên. Sự kiện này phá tan quan niệm thông thường rằng thân vật lý là cứng nhắc, nặng nề và giới hạn. Khi Như Lai “nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân”, an trú với tưởng lạc và tưởng khinh an, thân Ngài trở nên nhẹ như nắm bông gòn và sáng chói như quả cầu sắt được nung đỏ. Hình ảnh quả cầu sắt và nắm bông gòn là hai ví dụ cực kỳ sinh động, vừa gần gũi vừa sâu sắc. Chúng cho thấy: thân không phải là chủ thể cố định, mà hoàn toàn có thể bị chi phối bởi tâm. Khi tâm đạt đến sự định sâu và thấm nhuần thân bằng niềm vui thiền và cảm giác khinh an, vật chất thô nặng cũng có thể trở nên tinh tế, linh hoạt và đầy quang minh.

Kinh Văn

834. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “abhijānāti nu kho, bhante, bhagavā iddhiyā manomayena kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti? “abhijānāmi khvāhaṃ, ānanda, iddhiyā manomayena kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti. “abhijānāti pana, bhante, bhagavā iminā cātumahābhūtikena kāyena iddhiyā brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti? “abhijānāmi khvāhaṃ, ānanda, iminā cātumahābhūtikena {cātummahābhūtikena (sī. syā. kaṃ.)} kāyena iddhiyā brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti.
“yañca kho, omāti, bhante, bhagavā iddhiyā manomayena kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamituṃ, yañca kho abhijānāti, bhante, bhagavā iminā cātumahābhūtikena kāyena iddhiyā brahmalokaṃ upasaṅkamitā, tayidaṃ, bhante, bhagavato acchariyañceva abbhutañcā”ti. “acchariyā ceva, ānanda, tathāgatā acchariyadhammasamannāgatā ca, abbhutā ceva, ānanda, tathāgatā abbhutadhammasamannāgatā ca”.
“yasmiṃ, ānanda, samaye tathāgato kāyampi citte samodahati {samādahati (sī. syā. pī.)} cittampi kāye samodahati, sukhasaññañca lahusaññañca kāye okkamitvā viharati; tasmiṃ, ānanda, samaye tathāgatassa kāyo lahutaro ceva hoti mudutaro ca kammaniyataro ca pabhassarataro ca.
“seyyathāpi, ānanda, ayoguḷo divasaṃ santatto lahutaro ceva hoti mudutaro ca kammaniyataro ca pabhassarataro ca; evameva kho, ānanda, yasmiṃ samaye tathāgato kāyampi citte samodahati, cittampi kāye samodahati, sukhasaññañca lahusaññañca kāye okkamitvā viharati; tasmiṃ, ānanda, samaye tathāgatassa kāyo lahutaro ceva hoti mudutaro ca kammaniyataro ca pabhassarataro ca. “yasmiṃ, ānanda, samaye tathāgato kāyampi citte samodahati, cittampi kāye samodahati, sukhasaññañca lahusaññañca kāye okkamitvā viharati; tasmiṃ, ānanda, samaye tathāgatassa kāyo appakasireneva pathaviyā vehāsaṃ abbhuggacchati, so anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti — ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.
“seyyathāpi, ānanda, tūlapicu vā kappāsapicu vā lahuko vātūpādāno appakasireneva pathaviyā vehāsaṃ abbhuggacchati; evameva kho, ānanda, yasmiṃ samaye tathāgato kāyampi citte samodahati, cittampi kāye samodahati, sukhasaññañca lahusaññañca kāye okkamitvā viharati; tasmiṃ, ānanda, samaye tathāgatassa kāyo appakasireneva pathaviyā vehāsaṃ abbhuggacchati, so anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti — ekopi hutvā bahudhā hoti ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattetī”ti. dutiyaṃ.

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến cõi Phạm thiên không?”

“Ta nhớ, này Ānanda, Ta đã dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến cõi Phạm thiên.”

“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với chính thân tứ đại này mà đi đến cõi Phạm thiên không?”

“Ta nhớ, này Ānanda, Ta đã dùng thần lực với chính thân tứ đại này mà đi đến cõi Phạm thiên.”

“Bạch Thế Tôn, việc Thế Tôn có thể dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến cõi Phạm thiên, và việc Ngài nhớ đã dùng thần lực với chính thân tứ đại này mà đi đến cõi Phạm thiên: đó thật là vi diệu và hy hữu, bạch Thế Tôn, nơi Thế Tôn.”

“Này Ānanda, các Như Lai là những bậc vi diệu và có những phẩm chất vi diệu; các Như Lai là những bậc hy hữu và có những phẩm chất hy hữu.

“Này Ānanda, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi Ngài thể nhập  lạc tưởng và  khinh an tưởng đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai trở nên khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn.

“Này Ānanda, ví như một quả cầu sắt được nung nóng cả ngày, trở nên khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn. Cũng vậy, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi Như Lai an trú với sự tưởng lạc và sự tưởng khinh an đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai trở nên khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn.

“Này Ānanda, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi thể nhập  lạc tưởng và  khinh an tưởng đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai bay lên từ mặt đất vào hư không một cách không khó khăn. Ta chứng được các loại thần thông: từ một biến thành nhiều; từ nhiều biến thành một… Ngài thực hành tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.

“Này Ānanda, ví như một nắm bông gòn hoặc bông kapok, vì nhẹ, được gió nâng đỡ, bay lên từ mặt đất vào hư không một cách không khó khăn. Cũng vậy, khi Như Lai nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân, và khi Ta thể nhập  lạc tưởng và  khinh an tưởng  đối với thân, thì vào lúc ấy, thân của Như Lai bay lên từ mặt đất vào hư không một cách không khó khăn. Ngài chứng được các loại thần thông: từ một biến thành nhiều; từ nhiều biến thành một… Như Lai hiển hoá tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.”

Chú Thích

Câu hỏi  của Tôn giả Ānanda có “abhijānāti nu kho, bhante, bhagavā iddhiyā manomayena kāyena brahmalokaṃ upasaṅkamitā”ti? Có động từ abhijānāti được dịch thành nhiều dị bản. Đây là điểm cần chú ý. Theo Từ Điển Pali – English của Rhys David thì “abhijānāti: knows fully or by experience; is aware. (abhi + ñā + nā) (biết rõ, do trãi nghiệm, ghi nhận).  Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu là “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra?” thoạt nghe thì ổn nhưng đối với một thì thánh sơ quả mà hỏi như vậy thì có vẻ như thiếu hiểu biết về năng lực của một vị Toàn giác. Bản Anh ngữ của ngài Bodhi thì dịch là: “Venerable sir, does the Blessed One recall ever having gone to the brahmā world by spiritual power with a mind-made body?”(“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nhớ đã từng dùng thần lực với thân do tâm tạo mà đi đến cõi Phạm thiên không?”). Bản chữ Hán dịch là “tự trãi thân trãi nghiệm”; bản dịch Thái ngữ thì “tự ghi nhận”. Bản dịch nầy lấy theo ý của ngài Bodhi.

Đây là trường hợp rất hiếm hoi mà câu hỏi nêu lên hai khả năng của thần lực:  

  • Thân do tâm tạo (manomaya kāya): Thân tinh thần, nhẹ nhàng, do tâm lực tam muội định tạo ra.
  • Thân tứ đại (catumahābhūtika kāya): Chính thân vật lý thô nặng do đất, nước, lửa, gió hợp thành. Việc dùng thân tứ đại để lên cõi trời cao là điều cực kỳ hy hữu.

Phẩm chất vi diệu và hy hữu của Như Lai. Đức Phật dạy rằng các Như Lai là những bậc vi diệu và hy hữu, không chỉ ở trí tuệ mà còn ở khả năng làm chủ thân tâm một cách hoàn toàn. Sự kiện Ngài có thể đưa thân tứ đại lên cõi Phạm thiên chính là minh chứng cho phẩm chất siêu việt này.

 Phương pháp chuyển hóa thân tứ đại. Đức Phật chỉ rõ phương pháp then chốt: “Nhập thân vào tâm và nhập tâm vào thân”, kết hợp với thể nhập  lạc tưởng  (sukha-saññā) và  khinh an tưởng (lahutā-saññā). Nhờ đó, thân tứ đại trở nên khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, dễ sử dụng hơn và sáng chói hơn. Chữ “tưởng – saññā” không phải là nhớ lại mà là “thể nhập tâm thái với năng lực tam muội định”

Ví dụ minh họa “Quả Cầu Sắt”. Đức Phật đưa ví dụ: Một quả cầu sắt nguội thì nặng, cứng và tối. Khi được nung nóng cả ngày, nó trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn, dễ rèn hơn và sáng chói hơn. Cũng vậy, khi thân được “nung” bằng thiền định với tưởng lạc và tưởng khinh an, thân tứ đại sẽ thay đổi hoàn toàn về chất.

Ví dụ minh họa “Nắm Bông Gòn” và kết quả thần thông. Như nắm bông gòn hoặc bông kapok rất nhẹ, chỉ cần gió nhẹ là bay lên hư không. Khi thân đạt trạng thái khinh an, Đức Phật có thể bay lên từ mặt đất vào hư không không khó khăn, và chứng được các loại thần thông: từ một biến thành nhiều, từ nhiều biến thành một, và thực hành tự tại với thân cho đến cõi Phạm thiên.

Bài kinh khẳng định: Năng lực của thắng trí tam muội định khó đo lường theo thường thức. Thân tứ đại vốn nặng nề không phải là tuyệt đối. Nhờ tu tập thiền định đúng cách (nhập thân-tâm, tưởng lạc và tưởng khinh an), ngay cả thân vật lý cũng có thể trở nên nhẹ nhàng, linh hoạt và đầy quang minh. Đây là lời khích lệ lớn lao cho người tu học: thân tâm có thể được chuyển hóa, và thần thông không phải là điều xa vời nếu biết rèn luyện đúng phương pháp.

Sớ Giải

834. tatiyavaggassa dutiye iminā cātumahābhūtikenāti iminā catumahābhūtamayena evaṃ bhārikena garukena samānenāpi. omātīti pahoti sakkoti, idaṃ tepiṭake buddhavacane asambhinnapadaṃ. kāyampi citte samodahatīti kāyaṃ gahetvā citte āropeti, cittasannissitaṃ karoti, cittagatiyā peseti. cittaṃ nāma mahaggatacittaṃ, cittagatigamanaṃ lahukaṃ hoti. cittampi kāye samodahatīti cittaṃ gahetvā kāye āropeti, kāyasannissitaṃ karoti, kāyagatiyā peseti, kāyo nāma karajakāyo, kāyagatigamanaṃ dandhaṃ hoti. sukhasaññañca lahusaññañcāti abhiññācittasahajātasaññā. sā hi santasukhasamannāgatattā sukhasaññā nāma hoti, kilesadandhāyitattassa ca abhāvā lahusaññā nāma.
ayoguḷo divasaṃ santatto lahutaro ceva hotīti so hi dvīhi tīhi janehi ukkhipitvā kammāruddhane pakkhittopi divasaṃ paccamāno vivarānupaviṭṭhena tejena ceva vāyena ca vāyosahagato ca usmāsahagato ca tejosahagato ca hutvā evaṃ lahuko hoti, yathā naṃ kammāro mahāsaṇḍāsena gahetvā ekato parivatteti ukkhipati bahi nīharati. evaṃ pana mudu ca hoti kammaniyo ca. yathā naṃ so khaṇḍaṃ khaṇḍaṃ vicchindati, kūṭena hananto dīghacaturassādibhedaṃ karoti. imasmiṃ sutte vikubbaniddhi kathitā.

834. Trong bài kinh thứ hai của Tatiyavagga (Ayoguavagga), câu “iminā cātumahābhūtikenā” nghĩa là: “Với thân thể do bốn đại chủng tạo thành này” – tức là với thân thể nặng nề, thô kệch, nặng trịch như vậy, dù vẫn giữ nguyên bản chất bốn đại.

“Omātī” tức là “có thể làm được”, “có khả năng”. Đây là từ thuần túy, không pha tạp, xuất hiện nguyên vẹn trong Tam Tạng Phật ngôn (tepiṭake buddhavacane asambhinnapadaṃ).

“Kāyampi citte samodahatī” nghĩa là: lấy thân thể đặt vào trong tâm, làm cho thân nương tựa vào tâm, điều khiển thân theo sự di chuyển của tâm. “Tâm” ở đây chỉ tâm đáo đại (mahaggatacitta – tâm thiền, tâm chứng đắc). Sự di chuyển theo tâm thì rất nhẹ nhàng.

“Cittampi kāye samodahatī” nghĩa là: lấy tâm đặt vào trong thân, làm cho tâm nương tựa vào thân, điều khiển tâm theo sự di chuyển của thân. “Thân” ở đây chỉ thân do nghiệp sinh (karajakāya – thân tứ đại do nghiệp tạo). Sự di chuyển theo thân thì chậm chạp, nặng nề.

“Sukhasaññañca lahusaññañca tức là thọ tưởng vui sướng và tưởng nhẹ nhàng sinh khởi cùng với tâm diệu trí (abhiññācittasahajātasaññā). Vì tâm ấy đầy đủ sự an lạc thanh tịnh nên gọi là sukhasaññā (lạc tưởng). Vì không còn sự chậm chạp, nặng nề của phiền não nên gọi là lahusaññā (khinh an tưởng).

Ví như quả cầu sắt (ayoguḷo) được nung đỏ suốt cả ngày thì trở nên nhẹ hơn, mềm mại hơn và dễ thao tác hơn. Quả cầu sắt ấy, dù ban đầu phải do hai ba người khiêng mới nổi và ném vào lò rèn, nhưng khi đang bị nung đỏ, nhờ lửa (tejo) xâm nhập vào các kẽ hở, nhờ gió (vāyo) hỗ trợ, trở thành vāyosahagata (có gió đi kèm), usmāsahagata (có nhiệt độ đi kèm), tejosahagata (có lửa đi kèm), nên trở nên nhẹ đến mức người thợ rèn có thể dùng kìm lớn kẹp, lật qua lật lại, nhấc lên và đưa ra ngoài một cách dễ dàng. Không những nhẹ, nó còn mềm mại (mudu) và dễ làm việc (kammaniya) nữa. Người thợ có thể đập từng mảnh, dùng búa gõ tạo ra các hình dáng dài, vuông, tròn… tùy ý.

Trong kinh này, thần thông biến hóa (vikubbaniddhi) được nói đến.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Như Ý Túc

-ooOoo-

II. Phẩm Hòn Sắt

21.I. Ðạo (S.v,281)

1) Tại Sàvatthi.

2) -- Ngày xưa, trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, chưa thành Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Con đường gì, đạo lộ gì để tu tập như ý túc?" Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:

3) Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành, nghĩ rằng: "Như vậy, dục của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say... với tâm chói sáng tu tập tâm".

4-5) ... tinh tấn định... tâm định...

6) ... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành, nghĩ rằng: "Như vậy, tư duy của Ta sẽ không quá yếu đuối, sẽ không quá hăng say, sẽ không co rút phía trong, sẽ không phân tán phía ngoài, vị ấy trú với tưởng trước sau đồng đẳng. Trước thế nào, thời sau như vậy; sau thế nào, thời trước như vậy. Dưới thế nào, thời trên như vậy; trên thế nào, thời dưới như vậy. Ngày thế nào, thời đêm như vậy; đêm thế nào, thời ngày như vậy". Như vậy, với tâm rộng mở, với tâm không gò bó, với tâm chói sáng, vị ấy tu tập tâm.

7) Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện thành nhiều thân, nhiều thân hiện thành một thân... có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

8) Bốn như ý túc được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, Tỷ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

9) ... (Sáu thắng trí được thuyết rộng) ...

22.II. Hòn Sắt (S.v,282)

1) Tại Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

3) -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra?

-- Ta có biết, này Ananda, làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra.

4) -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới, với thân do bốn đại tác thành này?

-- Ta có biết, này Ananda, làm thế nào với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới, với thân do bốn đại tác thành này.

5) -- Thế Tôn có thể hóa thân (opapàti) với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do ý làm ra. Thế Tôn có thể rõ biết được với như ý lực, đi đến Phạm thiên giới với thân do bốn đại hợp thành. Như vậy, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật là vi diệu, thật là hy hữu!

-- Thật vậy, này Ananda, Như Lai thật là vi diệu, này Ananda, vì Như Lai đầy đủ vi diệu pháp. Như Lai thật hy hữu, này Ananda, vì Như Lai đầy đủ hy hữu pháp.

6) Khi nào, này Ananda, Thế Tôn định thân trên tâm và định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai lại càng khinh an hơn, càng nhu nhuyến hơn, càng kham nhận hơn, càng chói sáng hơn.

7) Ví như một hòn sắt (hâm nóng) cả ngày, trở thành nhẹ nhàng hơn, nhu nhuyễn hơn, kham nhận hơn, chói sáng hơn. Cũng vậy, này Ananda, khi nào Thế Tôn định thân trên tâm hay định tâm trên thân; trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai lại càng khinh an hơn, nhu nhuyễn hơn, càng kham nhận hơn, càng chói sáng hơn.

8) Trong khi, này Ananda, Thế Tôn định thân trên tâm hay định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng và khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai không mệt nhọc, từ đất bay bổng lên hư không, và thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hóa thành nhiều thân, nhiều thân hóa thành một thân... tự thân có thể bay đến Phạm thiên giới.

9) Ví như, này Ananda, hoa bông gòn hay hoa cỏ bông dại được gió thổi nhẹ, không mệt nhọc, từ đất bay bổng lên hư không. Cũng vậy, này Ananda, trong khi Thế Tôn định thân trên tâm, hay định tâm trên thân, trong khi nhập vào và an trú lạc tưởng, khinh an tưởng trong thân; trong khi ấy, này Ananda, thân của Như Lai không có gì mệt nhọc, có thể từ đất bay bổng lên hư không, và thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân... tự thân có thể bay đến Phạm thiên giới.