|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 14 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 646. DẪN NHẬP TƯƠNG ƯNG ANURUDDHA- ... .
2. Đôi dòng về Tôn giả Anuruddha 3. Đạo từ của Hoà thượng Tuệ Siêu 4. Thiên nhãn thông của Tôn giả Anuruddha 5. Tôn giả Anuruddha và thánh chúng 6. Hồi hướng – hoàn mãn
Đôi dòng về Tôn giả Anuruddha
Tôn giả Anuruddha là hiện thân của cái nhìn xa rộng. Không chỉ là thấu thị
về không gian (Thiên nhãn), mà là xuyên suốt về bản chất của khổ
đau và sự diệt khổ. Ngài chứng minh rằng một người có thể sinh
ra trong nhung lụa bậc nhất nhưng vẫn có thể đạt đến sự tự tại
cao nhất qua con đường khổ hạnh và định tĩnh.
Từ vương tử đến một bậc thánh giả
Tôn giả Anuruddha là anh em họ của Đức Phật và là một trong những vị đệ tử
xuất sắc nhất của Ngài. Ngài là con trai của vương tử Sākya
Amitodana và là em trai của Mahānāma. Khi nhiều thành viên của
các gia tộc Sākya khác đã xuất gia theo vị thân tộc vĩ đại của
họ, Mahānāma rất buồn vì chưa có ai trong gia đình mình xuất
gia. Vì vậy, ông đề nghị với em trai rằng một trong hai người
nên từ bỏ đời sống gia đình.
Ban đầu, Anuruddha không muốn đồng ý, vì Ngài được nuôi dưỡng hết sức tinh
tế và xa hoa, sống trong ba ngôi nhà riêng cho ba mùa (mùa lạnh,
mùa nóng, mùa mưa), luôn được vây quanh bởi các vũ nữ và nghệ
sĩ. Nhưng khi nghe Mahānāma kể về gánh nặng vô tận của đời sống
gia đình, Ngài đã đồng ý xuất gia. Tuy nhiên, Ngài không thể
nhận được sự đồng ý của mẹ cho đến khi thuyết phục được anh em
họ là Bhaddiya cùng đi xuất gia với mình.
Cùng với Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta và người thợ cạo Upāli, họ đến
chỗ Đức Phật tại rừng xoài Anupiya và được thọ giới. Trước khi
mùa mưa kết thúc, Anuruddha đã chứng được Thiên nhãn thông
(dibbacakkhu) (Vin.ii.180-3; Mtu.iii.177f). Sau này, Ngài được
xếp vào hàng đệ nhất trong những vị đã chứng đắc Thiên nhãn
thông (A.i.23).
Hành trình tiến đến viên giác
Sau khi xuất gia, Tôn giả Anuruddha tu tập chứng tầng cao của thiền với
thắng trí đặc biệt là thiên nhãn những vẫn không đạt được giải
thoát tối hậu. Tôn giả đã tìm đến sự hướng dẫn từ từ Tôn giả
Sāriputta. Những gì ghi lại trong sự kiện nầy là một trong những
bài kinh nổi tiếng trong Kinh Tạng Pali (xem thêm phụ chú 1)
Sau đó, Ngài nhận từ Tôn giả Sāriputta đề mục thiền là
Tám tư tưởng của bậc đại nhân
(A.iv.228ff-)[Tăng Chi Bộ Kinh, tập IV, trang 228 và các trang tiếp theo.]
. Một cuộc
đối thoại khác giữa Ngài và Tôn giả Sāriputta trước khi chứng
A-la-hán được ghi lại trong A.i.281-2-[Tăng
Chi Bộ Kinh, tập I, trang 281- 282
].. Ngài lui vào rừng Pācīnavamsadāya
thuộc nước Ceti để thực hành những đề mục này. Ngài đã thông
thạo bảy đề mục, nhưng không thể nắm được đề mục thứ tám. Đức
Phật, biết rõ điều đó, đã đến thăm Ngài và dạy cho Ngài đề mục
còn lại. Nhờ vậy, Anuruddha phát triển tuệ quán và chứng đắc quả
A-la-hán ở bậc cao nhất ()[
A.iv. loc. cit.:
Tăng Chi Bộ Kinh, tập IV, tại đoạn đã được trích dẫn trước đó
(không lặp lại số trang)];[
AA.108-9:
Chú giải của Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya Aṭṭhakathā),
trang 108–109.][
Thag.901:Kệ số 901 trong Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā).
. (xem thêm
phụ chú 2)
Tánh hạnh cao quý của một pháp lữ
Trong các kinh điển, Anuruddha hiện ra như một vị Tỳ khưu đầy tình cảm và
trung thành, luôn kính quý vô hạn đối với
Đức Phật, và Đức Phật
cũng đáp lại tình thương ấy. Trong các đại hội thánh chúng, Ngài
thường đứng gần Đức Phật (Bu.v.60) [
Kệ
số 60 trong Buddavaṃsa (Phật Sử).].
Khi Đức Phật thấy cần có thái độ mạnh
trước sự phân hoá của Tăng chúng ở Kosambī, Ngài rời đi tìm nơi
thanh tịnh hơn, và Ngài đã đến rừng Pācīnavamsadāya, nơi có
Anuruddha, Nandiya và Kimbila. Bài kinh Upakkilesa Sutta
(M.iii.153f.: Trung Bộ Kinh, tập III, trang 153 và
tiếp theo), nói về niềm vui của sự hòa hợp và
không còn cấu uế, dường như được thuyết riêng cho Anuruddha nhân
dịp này, vì cuối bài chỉ ghi Ngài hoan hỷ sau khi nghe, không đề
cập đến hai vị kia.
Lại nữa, trong Nalakapāna Sutta (M.i.462ff. [Trung Bộ Kinh, tập I và các
trang tiếp theo]), dù có rất nhiều Tỳ-kheo danh tiếng hiện diện, nhưng chính Tôn giả
Anuruddha là người được Đức Phật trực tiếp hỏi, và cũng là người
thay mặt tất cả mọi người trả lời. Xin xem thêm Cūḷa-Gosiṅga
Sutta và Mahā-Gosiṅga Sutta.
Tôn giả Anuruddha có mặt khi Đức Phật nhập Niết-bàn tại Kusinārā và biết
rõ khoảnh khắc Đức Phật viên tịch. Bài kệ Ngài tụng trong lúc ấy
rất sâu sắc, thể hiện sự bình thản triết lý, trái ngược với bài
kệ của Tôn giả Ānanda (D.ii.156-7[
Trường Bộ Kinh, tập II, trang 156–157 (theo bản in Pāli, thường
là PTS).]).
Tôn giả Anuruddha là người đứng đầu trong việc an ủi Tăng đoàn và khuyên
bảo họ về con đường tu tập tương lai. Cũng chính Ngài là người
được người Malla ở Kusinārā thỉnh ý về lễ tang cuối cùng của Đức
Phật (D.ii.160f). Sau này, tại Kỳ kiết tập lần thứ nhất, Ngài
đóng vai trò quan trọng và được giao trách nhiệm duyệt y việc
kết tập Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) (DA.i.15 [Chú giải Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya Aṭṭhakathā), tập I, trang 15.]).
Những đặc hạnh của một bậc a la hán
Trong một bài kệ được cho là của Anuruddha trong Theragāthā ([Trưởng Lão Tăng Kệ, kệ số
904];
ThagA.ii.72[ Chú giải Trưởng Lão
Tăng Kệ tập II, trang 72]), Ngài nói rằng trong 25 năm Ngài
không hề ngủ, và trong 30 năm cuối đời, Ngài chỉ ngủ vào canh
cuối của đêm. Cùng nguồn này (Thag.908; S.i.200) kể lại một lần
có một nữ thiên tên Jālinī (ThagA.ii.73; chi tiết trong
SA.i.225-6) – người từng là vợ của Ngài trong tiền kiếp – thấy
Ngài già nua, tóc bạc trong thiền định lúc tuổi già, đã hiện ra
quyến rũ Ngài bằng lạc thú cõi trời. Nhưng Anuruddha trả lời
rằng Ngài không cần những thứ ấy nữa, vì đã thoát khỏi sự tái
sinh.
Túc nghiệp thù thắng
Vào thời Phật Padumuttara, Ngài từng là một gia chủ giàu có. Nghe một
Tỳ-kheo được tuyên bố là đệ nhất về Thiên nhãn, Ngài phát nguyện
sẽ đạt được vinh dự tương tự trong tương lai. Ngài đã làm nhiều
việc phước lớn, trong đó có tổ chức một đại hội thắp đèn trước
tháp thờ Phật. Vào thời Phật Kassapa, Ngài sinh ra ở Bārāṇasī;
một ngày nọ, Ngài đặt đầy bát bơ thanh tịnh xung quanh tháp Phật
và thắp sáng chúng, tự mình đi nhiễu tháp suốt đêm, đội trên đầu
một cái bát đang cháy sáng.
Sau đó, Ngài tái sinh vào một gia đình nghèo ở Bārāṇasī và được đặt tên là
Annabhāra (nghĩa là “người mang thức ăn”). Một ngày, trong lúc
làm việc cho chủ là ngân chủ Sumana, Ngài đã dâng phần ăn của
mình cho một vị Bích-chi Phật tên Uparittha. Ngân chủ Sumana,
sau khi được thần hộ trì dù che kể lại việc làm thiện của
Annabhāra, đã thưởng cho Ngài và giúp Ngài buôn bán. Nhà vua hài
lòng với Ngài, ban cho một mảnh đất xây nhà. Khi đào nền, mảnh
đất ấy cho ra rất nhiều của chôn giấu. Nhờ khối tài sản khổng lồ
này, Ngài được phong tước Dhanasetthi (Đại phú trưởng giả)
(ThagA.ii.65ff.; Thag.910; DhA.iv.120ff [
Chú giải Kinh Pháp Cú, tập IV, từ trang 120 trở đi (và các
trang tiếp theo).]).
Theo Sớ giải Dhammapada (i.113), nhờ cúng dường cho vị Bích-chi Phật,
Anuruddha không bao giờ thiếu những gì Ngài mong muốn – đó chính
là điều Ngài đã phát nguyện. Có một câu chuyện rất dễ thương
liên quan đến việc này. Một lần khi chơi bóng với bạn bè, Ngài
bị thua và phải trả bằng bánh kẹo. Mẹ Ngài gửi bánh đến, nhưng
Ngài thua liên tục cho đến khi không còn bánh. Mẹ Ngài nhắn rằng
“không còn nữa”, nhưng Ngài không hiểu ý nghĩa của cụm từ “không
còn”. Khi mẹ Ngài gửi cho Ngài một cái bát rỗng để Ngài hiểu, vị
thần hộ trì thành phố đã đổ đầy bánh ngọt trời vào bát, để Ngài
không phải thất vọng. Từ đó, mỗi khi Anuruddha đòi bánh, mẹ Ngài
chỉ việc gửi một cái bát rỗng, và trên đường đi bát sẽ tự đầy
lên.
Apadāna (i.35) kể thêm một sự kiện khác trong quá khứ của Ngài. Vào thời
Phật Sumedha, Anuruddha thấy Phật đang thiền một mình dưới gốc
cây, Ngài đã thắp đèn xung quanh và giữ đèn cháy suốt bảy ngày.
Nhờ đó, Ngài làm vua chư thiên trong ba mươi kiếp, và làm vua
loài người hai mươi tám lần. Ngài có thể thấy xa một do-tuần cả
ban ngày lẫn ban đêm.
Anuruddha đã nhiều lần thảo luận với Đức Phật và được các đệ tử, cả
Tỳ-kheo lẫn cư sĩ, thỉnh ý về các vấn đề giáo lý và thực hành.
Trong Anuruddha Sutta (M.iii.144), Ngài cùng với Abhiya Kaccāna
và hai vị khác đến dùng bữa tại nhà của người thợ mộc hoàng cung
Pañcakanga. Cuối bữa ăn, người thợ mộc hỏi Ngài sự khác biệt
giữa sự giải thoát tâm vô lượng (appamāṇa) và sự giải thoát tâm
đại hành (mahaggata). Cuộc thảo luận dẫn đến việc trình bày về
bốn cảnh giới tái sinh trong các cõi trời Quang Âm (Ābhā). Trả
lời câu hỏi của Abhiya Kaccāna, Anuruddha giải thích rõ bản chất
của các cõi ấy. Cuối bài kinh, Anuruddha thừa nhận rằng chính
Ngài đã từng tái sinh trong những cõi trời đó.
Trong Tương Ưng Bộ (S.iv.240-5), Ngài được nhắc đến khi hỏi Đức Phật về
phụ nữ: làm thế nào họ được sinh vào cõi lành và làm thế nào họ
rơi vào địa ngục. Một câu hỏi tương tự cũng được ghi trong Tăng
Chi Bộ. Anuruddha từng được một số thiên nữ Manāpakāyikā đến
thăm, họ múa hát và biểu diễn khả năng thay đổi màu sắc theo ý
muốn. Ngài đến gặp Đức Phật và hỏi làm thế nào phụ nữ có thể
sinh vào hàng thiên nữ ấy (A.iv.262ff [ Tăng Chi Bộ, tập IV, trang 262 và các trang
tiếp theo]).
Chúng ta thấy Ngài (S.v.174-6, cũng 299f) được Samyutta và Moggallāna hỏi
về bậc hữu học (sekha) và vô học (asekha), cũng như về thắng trí
(abhiññā). Khi giải thích đoạn này, Chú giải (SA.iii.183) cho
biết Anuruddha thường dậy rất sớm, sau khi tắm rửa, Ngài ngồi
trong tịnh thất, gọi tưởng lại một ngàn kiếp quá khứ và tương
lai. Với Thiên nhãn, Ngài biết rõ một ngàn thế giới hệ và mọi
hoạt động của nó.
Một thiền sư vipassana
Anuruddha Saṃyutta (S.v.294) ghi lại loạt câu hỏi của Tôn giả Moggallāna
về Tứ Niệm Xứ, phạm vi của chúng, v.v… Rõ ràng Anuruddha rất
nhấn mạnh việc tu tập Tứ Niệm Xứ, vì chúng được nhắc đi nhắc lại
nhiều lần trong các bài giảng của Ngài. Ngài quy tất cả thần lực
của mình cho sự phát triển Tứ Niệm Xứ và khuyên mọi người nên
thực hành chúng (S.v.299-306). Ngài tự xem Thiên nhãn thông là
thành tựu cao nhất. Trong Mahāgosiṅga Sutta (M.i.213), Ngài
tuyên bố rằng Thiên nhãn thông hay sanh tử minh mang giá trị thù
thắng trong sự chứng ngộ.
Một lần Ngài bị bệnh nặng tại rừng Andhavana ở Sāvatthī, nhưng cơn đau
không làm lay động tâm Ngài, vì theo Ngài, tâm Ngài đã an trú
vững chắc trong Tứ Niệm Xứ (S.v.302). Ngoài việc dạy Tứ Niệm Xứ,
Ngài dường như không nổi tiếng lắm với vai trò một vị thầy. Ngài
có tính cách trầm lặng, ít can thiệp vào những cuộc tranh cãi
của Tăng đoàn.
Vài câu chuyện bên lề
Thần thông (iddhi) của Anuruddha được nhắc đến nhiều lần. Ngài là một
trong những vị (cùng với Moggallāna, Mahākassapa và Mahākappina)
đã lên cõi Phạm thiên để hàng phục lòng kiêu mạn của vị Phạm
thiên cho rằng không có sa-môn nào có thể đến được cõi của ông
(S.i.145). Mẹ của Dạ-xoa Piyankara, trong lúc đi tìm thức ăn,
nghe Ngài tụng kinh Dhammapada ban đêm và đứng lặng nghe say sưa
(S.i.209; SA.i.237-8).
Trong xứ Vajji, Ngài được kính trọng đặc biệt cùng với Nandiya và Kimbila.
Một Dạ-xoa tên Dīgha đã kể với Đức Phật rằng dân chúng các cõi
trời và Phạm thiên đều ganh tị với người Vajji vì có những vị
Tỳ-khưu xuất sắc như vậy cư trú trong xứ của họ (trong
Cūḷagosiṅga Sutta, M.i.210).
Trong rất nhiều bản Jātaka, Anuruddha được nhận diện với các nhân vật xuất
hiện trong phần quá khứ. Trong nhiều trường hợp, Ngài được cho
là Đế Thích (Sakka) – vị thần xuất hiện cứu giúp trong chuyện.
Ví dụ: Manicora (J.ii.125), Guttila (ii.257), Ayakūta (iii.147),
Mahāsūka (iii.494), Cullasūka (iii.496), Kanha (iv.14), Akitti
(iv.242), Sādhīna (iv.360), Siri (iv.412), Mahāsutasoma (v.511),
Sāma (vi.95), Nimi (vi.129), Mahāsumagga (vi.329), Vessantara
(vi.593).
Ở những nơi khác, Ngài được nhận diện với các nhân vật khác nhau:
Tên Anuruddha xuất hiện trong nhiều câu chuyện của Sớ giải Dhammapada.
Trong chuyện Cūlasubhaddā, sau khi Đức Phật đến thăm Ugganagara
theo lời thỉnh cầu của Cūlasubhaddā và nhận sự cúng dường,
Anuruddha được yêu cầu ở lại Ugganagara để lợi ích cho bà và
những người mới quy y (DhA.iii.471). Khi Đức Phật trú mưa tại
cõi trời Đao Lợi để thuyết Abhidhamma, chính Anuruddha là người
giữ cho dân chúng ở nhân gian được biết những việc Ngài đang làm
(DhA.iii.218f.).
Theo Petavatthu (Pv., p.27, vv.58-60), nhờ một muỗng thức ăn mà Annabhāra
đã dâng cho Anuruddha, Indaka được sinh lên cõi Đao Lợi, và
chính món bố thí ấy đã giúp ông vượt trội hơn Ankura – người đã
tiêu hết tài sản để bố thí.
Anuruddha có một người em gái tên Rohinī bị bệnh ngoài da nên ở trong nhà
và không chịu ra gặp Ngài khi Ngài về thăm thân quyến. Nhưng
Ngài khăng khăng đòi gặp và khuyên nàng bán đồ trang sức để xây
một nhà nghỉ cho Đức Phật và Tăng đoàn. Sau này, Rohinī chứng
quả Dự lưu và tái sinh làm vợ của Đế Thích (DhA.iii.295f).
Trong kinh điển Đại thừa, tên Ngài được viết là Aniruddha, âm Hán Việt là
A Na Luật. Trong Lalitavistara, Ngài được nhắc đến như người
mang đồ trang sức của Bồ-tát khi Bồ-tát từ bỏ cung điện. Có lúc
Ngài được cho là con của Dronodana. Kinh điển Đại Thừa cũng liệt
kê Ngài vào một trong “Thập đại đệ tử”
Ngài viên tịch tại Veluvagāma thuộc nước Vajji, dưới bóng một rừng trúc
rậm (Thag.919). Ngài thọ 115 tuổi (DA.ii.413).
Phụ chú 1.
Anuruddha Sutta (AN 3.131)
Một thời, Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta, sau khi đến,
chào hỏi thân ái, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, Tôn giả Anuruddha thưa với Tôn giả Sāriputta:
“Thưa hiền giả Sāriputta, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt nhãn lực
con người, tôi có thể nhìn thấy một ngàn thế giới (sahassaṃ
lokaṃ olokemi).
Tinh tấn của tôi được khơi dậy, không lười biếng. Chánh niệm của tôi được
an trú, không hôn trầm. Thân tôi an tịnh, không bị kích động.
Tâm tôi định tĩnh, nhất điểm.
Tuy nhiên, tâm tôi vẫn chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không
chấp thủ (na ca kho me āsavā anupādāya cittam vimuccati).”
“Thưa hiền giả Anuruddha, khi nào hiền giả nghĩ rằng: ‘Với thiên nhãn
thanh tịnh, siêu việt nhãn lực con người, tôi nhìn thấy một ngàn
thế giới’ — đó là ngã mạn (māna) của hiền giả.
Khi nào hiền giả nghĩ rằng: ‘Tinh tấn của tôi được khơi dậy, không lười
biếng…’ — đó là trạo cử (uddhacca) của hiền giả.
Khi nào hiền giả nghĩ rằng: ‘Tuy nhiên, tâm tôi vẫn chưa được giải thoát
khỏi các lậu hoặc…’ — đó là nghi hoặc, lo âu (kukkucca) của hiền
giả.
Thưa hiền giả Anuruddha, hiền giả hãy từ bỏ ba pháp này: ngã mạn, trạo cử
và nghi hoặc, lo âu.
Hiền giả hãy hướng tâm về Niết-bàn (nibbāna).
Khi hiền giả làm như vậy, tâm hiền giả sẽ được giải thoát khỏi các lậu
hoặc do không chấp thủ.”
Sau khi được Tôn giả Sāriputta khuyên như vậy, Tôn giả Anuruddha sống độc
cư, không phóng dật, tinh cần, tinh tấn. Không bao lâu sau, Ngài
tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong
hiện đời vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Ngài biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm,
không còn trở lui trạng thái này nữa.”
Phụ chú 2.
Kinh Anuruddha về những tư tưởng lớn
Anuruddhamahāvitakkasutta (Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)
8.30 (AN 8.30), thuộc Chương Tám Pháp (Aṭṭhakanipāta).
Một thời, Thế Tôn trú tại Kỳ Viên, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika
(Anathapindika). Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đang ngồi một
mình trong chỗ thanh vắng, suy tư về tám tư tưởng của bậc đại
nhân.
Đức Phật dùng thần thông biết được tâm tư của Tôn giả Anuruddha, liền hiện
ra trước mặt và khen ngợi:
“Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Ông đã khéo suy tư về tám tư tưởng
của bậc đại nhân. Này Anuruddha, tám tư tưởng của bậc đại nhân
là những gì?
1.
Pháp này là
cho người ít dục (appiccha), chứ không phải cho người đa dục
(mahiccha).
2.
Pháp này là
cho người biết đủ (santuṭṭha), chứ không phải cho người không
biết đủ (asantuṭṭha).
3.
Pháp này là
cho người ưa thích sống độc cư (pavivitta), chứ không
phải cho người ưa thích hội chúng, ưa náo nhiệt (saṅgaṇikārāma).
4.
Pháp này là
cho người tinh tấn (āraddhavīriya), chứ không phải cho người
biếng nhác (kusīta).
5.
Pháp này là
cho người chánh niệm (upaṭṭhitasati), chứ không phải cho người
thất niệm (muṭṭhassati).
6.
Pháp này là
cho người định tĩnh (samāhita), chứ không phải cho người tán
loạn (asamāhita).
7.
Pháp này là
cho người có trí tuệ (paññavanta), chứ không phải cho người kém
trí (duppañña).
Này Anuruddha, ông hãy thêm tư tưởng thứ tám nữa: 8. Pháp này là cho người
ưa thích không phiền não, không tạp loạn (nippapañcārāma,
nippapañcarata), chứ không phải cho người ưa thích phiền não,
tạp loạn (papañcārāma, papañcarata).”
Đức Phật dạy tiếp: “Này Anuruddha, nếu ông thực hành và làm cho sung mãn
tám tư tưởng của bậc đại nhân này, ông sẽ có thể chứng đắc bất
kỳ quả vị nào mình muốn, từ Nhập lưu cho đến A-la-hán.”
Sau khi được Đức Phật dạy, Tôn giả Anuruddha tinh tấn tu tập tám tư tưởng
này và không bao lâu sau chứng đắc A-la-hán quả, trở thành bậc
“Thiên nhãn đệ nhất” (đệ nhất về Thiên nhãn).
Phụ chú 3.
Dưới đây là sự so sánh chi tiết giữa hai bài kinh:
1. Tổng quan chung
2. So sánh nội dung 8 điều
Phiên bản Nam Tạng (AN 8.30) – Tám tư tưởng của bậc đại nhân
Đức Phật dạy Tôn giả Anuruddha suy tư về tám điều sau (đây là những tư
tưởng / niệm cần thường xuyên quán chiếu):
1.
Pháp này là cho người ít dục
(appiccha), không phải cho người đa dục.
2.
Pháp này là cho người biết đủ
(santuṭṭha), không phải cho người không biết đủ.
3.
Pháp này là cho người ưa thích sống độc
cư (pavivitta), không phải cho người ưa hội chúng, náo nhiệt.
4.
Pháp này là cho người tinh tấn
(āraddhavīriya), không phải cho người biếng nhác.
5.
Pháp này là cho người chánh niệm
(upaṭṭhitasati), không phải cho người thất niệm.
6.
Pháp này là cho người định tĩnh
(samāhita), không phải cho người tán loạn.
7.
Pháp này là cho người có trí tuệ
(paññavanta), không phải cho người kém trí.
8.
Pháp này là cho người ưa thích không
phiền não, không tạp loạn (nippapañcārāma), không phải cho người
ưa thích phiền não, hý luận.
→ Đây là 8 phẩm chất tu tập nội tâm, nhấn mạnh sự giản dị, tinh tấn và
thanh tịnh tâm thức để tiến đến giải thoát (A-la-hán).
Phiên bản Hán Tạng (Bát Đại Nhân Giác) – Tám điều giác ngộ
Kinh liệt kê tám điều giác ngộ của các bậc Bồ-tát / Đại Nhân (thường được
hiểu là Bồ-tát đạo):
1.
Thế gian vô
thường, quốc độ nguy khốn, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sanh diệt biến dị,
hư ngụy vô chủ.
2.
Đa dục vi
khổ (tham dục nhiều thì khổ nhiều), sinh tử mệt nhọc, oán thù tăng trưởng.
3.
Tâm vô yểm
túc (tâm không biết đủ), chỉ biết cầu lấy, tăng trưởng tội ác → Bồ-tát nên
tri túc (biết đủ), an bần thủ đạo.
4.
Giải đãi
trụy lạc (biếng nhác dẫn đến sa đọa) → Phải thường hành tinh tấn, phá phiền não,
hàng phục tứ ma, thoát khỏi ngục tù ngũ ấm.
5.
Ngu si sinh
tử (si mê là nguyên nhân luân hồi) → Bồ-tát phải quảng học đa văn, tăng
trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài để giáo hóa chúng sinh.
6.
Bần khổ đa
oán (nghèo khổ dễ sinh oán hận) → Bồ-tát nên bố thí, từ bi, bình đẳng.
7.
Ngũ dục
trói buộc (năm dục là tù ngục) → Bồ-tát nên lìa dục, sống thanh tịnh.
8.
Sinh tử
thiêu đốt, khổ não vô cùng → Bồ-tát phát tâm Đại thừa, nguyện chịu khổ thay chúng
sinh, độ tất cả đến Niết-bàn an lạc.
Đây là 8 điều giác ngộ mang tính quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã, kết
hợp tinh thần Bồ-tát đạo (lợi tha, phát tâm rộng lớn).
3. Điểm giống nhau
4. Điểm khác biệt quan trọng
Kinh AN 8.30 là phiên bản gốc, thuần Nguyên thủy,
tập trung vào việc rèn luyện tâm để đạt giải thoát. Nó rất thực
tế và phù hợp với người tu thiền chỉ – tuệ.
Kinh Bát Đại Nhân Giác là phiên
bản Đại thừa hóa, được An Thế Cao dịch và phổ biến rộng rãi ở
Đông Á. Kinh này dung hợp tinh thần Nguyên thủy với lý tưởng
Bồ-tát, nhấn mạnh vô thường, khổ và lòng từ bi rộng lớn, nên dễ
đi vào đời sống tụng niệm hàng ngày của Phật tử.
Phụ chú 4.
“Thập Đại Đệ Tử” theo Phật giáo Đại Thừa
Trong Phật giáo Đại Thừa (Bắc truyền), Thập Đại Đệ Tử (十大弟子) là danh xưng chỉ mười vị đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Đây là mười vị Tỳ-kheo đã chứng quả A-la-hán,
thường được nhắc đến trong nhiều kinh điển Đại Thừa như Kinh Duy
Ma Cật (Vimalakīrti-nirdeśa Sūtra), và được coi là những tấm
gương sáng về trí tuệ, đạo hạnh, thần thông và công hạnh hoằng
pháp.
Khái niệm “Thập Đại Đệ Tử” xuất hiện cả trong Nam Tạng
(Theravāda) lẫn Bắc Tạng, nhưng Đại Thừa thường nhấn mạnh vai
trò của họ trong việc bảo hộ Chánh pháp, hỗ trợ Phật độ sinh, và
làm mô hình cho hành giả tu tập (bao gồm cả Bồ-tát đạo).
Danh sách Thập Đại Đệ Tử theo Phật giáo Đại Thừa
Danh sách phổ biến nhất (thứ tự thường gặp trong kinh điển
Bắc truyền và chùa chiền Việt Nam, Trung Quốc):
1.
Ma-ha-ca-diếp (Mahākāśyapa / Đại Ca Diếp)
o
Đầu Đà Đệ Nhất
(Khổ hạnh Đệ Nhất).
o
Người chủ trì Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất sau khi
Phật nhập Niết-bàn.
o
Được xem là Sơ Tổ Thiền Tông Ấn Độ (truyền y bát cho tổ
Ananda).
o
Đại diện cho hạnh khổ hạnh, trì giới nghiêm mật.
2.
Xá-lợi-phất (Śāriputra / Xá Lợi Phất)
o
Trí Tuệ Đệ Nhất.
o
Được Phật khen là “Trưởng Tử của Phật”, thường thay Phật
thuyết pháp.
o
Trí tuệ sắc bén, phân tích giáo pháp rõ ràng.
o
Trong Đại Thừa, Ngài là biểu tượng của quyền trí (trí tuệ
phương tiện).
3.
Mục-kiền-liên (Mahāmaudgalyāyana / Mục Kiền Liên)
o
Thần Thông Đệ Nhất.
o
Thường đi đôi với Xá-lợi-phất (gọi là “Song Hiền”).
o
Có thần thông lớn, từng cứu mẹ khỏi địa ngục (liên quan đến
Vu Lan Bồn).
o
Biểu tượng cho thần lực hỗ trợ hoằng pháp.
4.
Phú-lâu-na (Pūrṇa / Phú Lâu Na)
o
Thuyết Pháp Đệ Nhất.
o
Khéo thuyết pháp, thuyết phục nhiều người (kể cả ngoại đạo).
o
Giọng nói hay, diễn đạt rõ ràng, cảm hóa chúng sinh.
5.
Tu-bồ-đề (Subhūti / Tu Bồ Đề)
o
Giải Không Đệ Nhất.
o
Chuyên về Bát-nhã Không tông (hiểu sâu về “không”).
o
Trong kinh Kim Cang, Ngài là người đối thoại chính với Phật.
o
Rất quan trọng trong Đại Thừa Bát-nhã.
6.
Ca-chiên-diên (Mahākātyāyana / Đại Ca Chiên Diên)
o
Luận Nghị Đệ Nhất
(Biện tài, phân tích Đệ Nhất).
o
Khéo giải thích giáo pháp một cách logic, thuyết phục
Bà-la-môn và ngoại đạo.
7.
A-na-luật (Aniruddha / A Na Luật)
o
Thiên Nhãn Đệ Nhất.
o
Có thiên nhãn thông, thấy được nhiều thế giới.
o
Dù mắt thịt bị mù vì tinh tấn quá mức, nhưng tâm nhãn sáng
suốt.
8.
Ưu-ba-ly (Upāli / Ưu Ba Ly)
o
Trì Giới Đệ Nhất.
o
Xuất thân là thợ cạo cho hoàng tộc, nhưng giữ giới rất
nghiêm.
o
Chủ trì việc kết tập Luật Tạng sau khi Phật nhập diệt.
9.
A-nan-đà (Ānanda / A Nan Đà)
o
Đa Văn Đệ Nhất.
o
Là em họ Phật, làm thị giả Phật 25 năm, nghe và nhớ rất
nhiều kinh.
o
Công lớn trong việc kết tập kinh điển (nhiều kinh mở đầu
bằng “Tôi nghe như vầy”).
10.
La-hầu-la (Rāhula / La Hầu La)
o
Mật Hạnh Đệ Nhất
(Hành trì kín đáo, kín mật Đệ Nhất).
o
Là con trai duy nhất của Phật (trước khi xuất gia).
o
Tu hành kín đáo, ít biểu lộ, nhưng chứng quả cao.
Ý nghĩa trong Phật giáo Đại Thừa
Lưu ý
|