BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 16 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 52. Tương Ưng Anuruddha-Phẩm Độc Cư- SN 52. 1, 2-
Bài 648. MỘT SỐ BÀI KINH KHUYẾN TU TỨ NIỆM XỨ-

Kinh Sutanu (Sutanusuttaṃ), Kinh Rừng Gai I (Paṭhamakaṇḍakīsuttaṃ), Kinh Rừng Gai II (Dutiyakaṇḍakīsuttaṃ), Kinh Rừng Gai III (Tatiyakaṇḍakīsuttaṃ), Kinh Diệt Ái (Taṇhakkhayasuttaṃ) .
 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Người đời thường cho rằng thần thông, thiên nhãn hay túc mạng thông là những năng lực cần được tu luyện riêng biệt, thậm chí là mục tiêu đáng theo đuổi. Tuy nhiên, trường hợp của Anuruddha cho thấy một chân lý ngược lại: oai lực phi thường lại phát sinh từ nền tảng giản dị nhất. Việc Ngài Anuruddha có thể thấy mười ngàn thế giới chỉ trong một niệm (ekāvajjana) hay nhớ rõ vô số kiếp quá khứ không phải là kết quả của một phương pháp thần bí, mà là hệ quả tất yếu của việc an trú vững chắc trong Tứ Niệm Xứ. Điều này khẳng định rằng: trong Phật pháp, chiều sâu quan trọng hơn sự kỳ diệu, và tuệ giác quan trọng hơn năng lực. Sự vĩ đại tâm linh không nằm ở những gì phi thường được biểu hiện ra ngoài, mà ở sự ổn định và trong sáng của tâm trong từng sát-na hiện tại. Tôn giả Anuruddha có thể thấy vô số thế giới, nhưng điều làm nên sự vĩ đại của Ngài không phải là “thấy nhiều”, mà là thấy đúng — thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã trong mọi pháp. Và chính sự thấy đúng này bắt đầu từ một hành động tưởng chừng rất đơn giản: chánh niệm trên thân, thọ, tâm, pháp.

Kinh Văn

Kinh Sutanu (Sutanusuttaṃ)

901. ekaṃ samayaṃ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṃ viharati sutanutīre. atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anuruddhena saddhiṃ sammodiṃsu. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavocuṃ — “katamesaṃ āyasmā anuruddho dhammānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto”ti?
“catunnaṃ khvāhaṃ, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto. katamesaṃ catunnaṃ? idhāhaṃ, āvuso, kāye kāyānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — imesaṃ khvāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto.
imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā hīnaṃ dhammaṃ hīnato abbhaññāsiṃ, majjhimaṃ dhammaṃ majjhimato abbhaññāsiṃ, paṇītaṃ dhammaṃ paṇītato abbhaññāsin”ti. tatiyaṃ.

Một thời, Tôn giả Anuruddha đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), bên bờ sông Sutanu. Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-khưu đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha, sau khi đến, họ trao đổi những lời chào hỏi thân hữu. Khi đã kết thúc những lời chào hỏi và nói chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Anuruddha:

"Thưa Tôn giả Anuruddha, nhờ tu tập và trau dồi những pháp gì mà Tôn giả đạt được sự vĩ đại của thắng trí?"

"Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm (Tứ Niệm Xứ) mà tôi đã đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, này chư hiền, tôi an trú quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.

Tôi an trú quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.

Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri được trạng thái hạ liệt là hạ liệt; thắng tri được trạng thái trung bình là trung bình; thắng tri được trạng thái cao thượng là cao thượng."

Kinh Rừng Gai I (Paṭhamakaṇḍakīsuttaṃ)

902. ekaṃ samayaṃ āyasmā ca anuruddho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno sākete viharanti kaṇḍakīvane. atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhitā yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anuruddhena saddhiṃ sammodiṃsu. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavoca — “sekhenāvuso anuruddha, bhikkhunā katame dhammā upasampajja vihātabbā”ti?
“sekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā. katame cattāro? idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — sekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā ime cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā”ti. catutthaṃ.
 

Một thuở, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên) đang trú tại Sāketa, trong Rừng Gai. Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahāmoggallāna xuất khỏi thiền tịnh, đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha và trao đổi những lời chào hỏi thân hữu. Khi đã kết thúc những lời chào hỏi và nói chuyện thân mật, các ngài ngồi xuống một bên, và Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

"Hiền hữu Anuruddha, những pháp gì mà một vị Tỳ-khưu đang còn bậc hữu học (đang tiến tu) nên chứng đạt và an trú vào?"

"Hiền hữu Sāriputta, một vị Tỳ-khưu là bậc hữu học nên chứng đạt và an trú vào bốn nền tảng chánh niệm. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, thưa hiền hữu, một Tỳ-khưu an trú quán thân trong thân... quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Một vị Tỳ-khưu bậc hữu học nên chứng đạt và an trú vào bốn nền tảng chánh niệm này."

Kinh Rừng Gai II (Dutiyakaṇḍakīsuttaṃ)

903. sāketanidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavoca — “asekhenāvuso anuruddha, bhikkhunā katame dhammā upasampajja vihātabbā”ti? “asekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā. katame cattāro? idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — asekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā ime cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā”ti. pañcamaṃ.

Tại Sāketa. Đang ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

"Hiền hữu Anuruddha, những pháp gì mà một vị Tỳ-khưu là bậc vô học (bậc viên giác không cần tu tập thêm) nên chứng đạt và an trú vào?"

"Hiền hữu Sāriputta, một vị Tỳ-khưu là bậc vô học cũng nên chứng đạt và an trú vào bốn nền tảng chánh niệm. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, thưa hiền hữu, một Tỳ-khưu an trú quán thân trong thân... quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Một vị Tỳ-khưu bậc Vô học nên chứng đạt và an trú vào bốn nền tảng chánh niệm này."

Kinh Rừng Gai III (Tatiyakaṇḍakīsuttaṃ)

904. sāketanidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavoca — “katamesaṃ āyasmā anuruddho dhammānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto”ti? “catunnaṃ khvāhaṃ, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto. katamesaṃ catunnaṃ? idhāhaṃ, āvuso, kāye kāyānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — imesaṃ khvāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto. imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā sahassaṃ lokaṃ abhijānāmī”ti. chaṭṭhaṃ.

Tại Sāketa. Đang ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

"Nhờ tu tập và trau dồi những pháp gì mà Tôn giả Anuruddha đạt được sự vĩ đại của thắng trí?"

"Thưa hiền giả, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm mà tôi đã đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, thưa Hiền giả, tôi an trú quán thân trong thân... quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.

Chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Hơn nữa, thưa hiền hữu, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi trực tiếp thắng tri một ngàn thế giới."

Kinh Diệt Ái (Taṇhakkhayasuttaṃ)

905. sāvatthinidānaṃ. tatra kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi — “āvuso bhikkhavo”ti. “āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato anuruddhassa paccassosuṃ. āyasmā anuruddho etadavoca —
“cattārome, āvuso, satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā taṇhakkhayāya saṃvattanti. katame cattāro? idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ... pe ... vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — ime kho, āvuso, cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā taṇhakkhayāya saṃvattantī”ti. sattamaṃ.

Tại Sāvatthī. Ở đó, Tôn giả Anuruddha nói với các vị Tỳ-khưu rằng: "Này chư hiền Tỳ-khưu!"

"Thưa hiền hữu!" các vị Tỳ-khưu ấy đáp lời. Tôn giả Anuruddha nói như sau:

"Này chư hiền, bốn nền tảng chánh niệm này, khi được tu tập và trau dồi, sẽ dẫn đến sự diệt tận của ái. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, thưa chư hiền, một Tỳ-khưu an trú quán thân trong thân... quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Bốn nền tảng chánh niệm này, khi được tu tập và trau dồi, dẫn đến sự diệt tận của ái."

Chú Thích

Kinh Sutanu. Tôn giả Anuruddha đang trú tại bờ sông Sutanu (một con sông gần Sāvatthī). Các Tỳ-kheo hỏi Ngài đã chứng được đại thần thông (mahābhiññā) nhờ phát triển và tu tập pháp nào.

Tôn giả trả lời rằng chính nhờ bốn niệm xứ. Ngài không chỉ nêu tên bốn niệm xứ mà còn nhấn mạnh thêm một kết quả quan trọng: nhờ tu tập Tứ Niệm Xứ, Ngài có thể biết rõ ba loại trạng thái — thấp kém (hīna), trung bình (majjha), và thù thắng (paṇīta). Đây là một khả năng rất sâu của tuệ minh sát.

Kinh Rừng Gai I. Ba vị cao đồ của Đức Thế Tôn là  Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Đại Mục-kiền-liên — cùng trú tại Rừng Gai (Kaṇḍakīvana) ở Sāketa.

Tôn giả Sāriputta hỏi: “Một Tỳ-kheo hữu học (sekha — còn đang tu tập, chưa phải A-la-hán) nên nhập và an trú vào những pháp nào?”

Tôn giả Anuruddha trả lời rõ ràng: Bốn niệm xứ. Đây là câu trả lời rất quan trọng vì nó khẳng định rằng ngay cả Tỳ-kheo hữu học cũng phải lấy Tứ Niệm Xứ làm nền tảng chính của sự tu tập.

Kinh Rừng Gai II. Cùng bối cảnh Rừng Gai. Tôn giả Sāriputta tiếp tục hỏi: “Một Tỳ-kheo vô học (asekha — đã chứng A-la-hán) nên nhập và an trú vào những pháp nào?”

Tôn giả Anuruddha lại trả lời vẫn là bốn niệm xứ.

Đây là điểm then chốt: Tứ Niệm Xứ không chỉ là pháp cho người mới tu, mà còn là pháp cho bậc A-la-hán. Ngay cả khi đã giải thoát, các Ngài vẫn an trú trong Tứ Niệm Xứ.

Kinh Rừng Gai III. Tôn giả Sāriputta hỏi về nguyên nhân Tôn giả Anuruddha chứng được đại thần thông.

Tôn giả Anuruddha lại khẳng định: nhờ phát triển và tu tập bốn niệm xứ. Hơn nữa, Ngài còn nói rõ thêm rằng nhờ Tứ Niệm Xứ, Ngài có thể biết rõ ngàn thế giới (sahassaloka) — tức là sử dụng thiên nhãn thông một cách rộng lớn.

Kinh Sự Đoạn Tận Khát Ái. Tôn giả Anuruddha dạy các Tỳ-kheo rằng: Bốn niệm xứ, khi được phát triển và tu tập, sẽ dẫn đến sự đoạn tận khát ái (taṇhākkhaya) — tức là Niết-bàn.

“Mahābhiññatanti chābhiññābhāvaṃ”. Trong bài kinh 3 (3), Tôn giả Anuruddha nói Ngài chứng được mahābhiññā (đại thần thông). Sớ giải chú thích: mahābhiññā ở đây không phải chỉ là một vài thần thông thông thường, mà là sự chứng đắc sáu thắng trí (chaḷabhiññā ):

1.    Thiên nhãn thông (dibbacakkhu)

2.    Thiên nhĩ thông (dibbasota)

3.    Tha tâm thông (cetopariyañāṇa)

4.    Túc mạng thông (pubbenivāsānussati)

5.    Thần túc thông (iddhividhi)

6.    Lậu tận thông (āsavakkhayañāṇa)

Tức là Ngài đã chứng được toàn bộ sáu thắng trí, trong đó Lậu tận thông là quan trọng nhất (chứng A-la-hán).

Ba giai tầng: Hīna – Majjhima – Paṇīta.  Tôn giả Anuruddha nói Ngài “biết rõ trạng thái thấp kém là thấp kém, trung bình là trung bình, thù thắng là thù thắng”. Chú giải trích dẫn Dhammasaṅgaṇī để làm rõ ý nghĩa:

Hīna (Thấp kém):12 tâm bất thiện (akusala citta). Bao gồm tất cả tâm tham, sân, si và các thuộc tánh kết hợp. Đây là những pháp thấp kém nhất, gây khổ và luân hồi.

Majjhima (Trung bình): Thiện pháp trong 3 giới - Quả báo trong 3 giới - Tâm vô ký chức năng (kiriya) trong 3 giới - Toàn bộ sắc pháp (28 sắc pháp). Đây là các pháp thế gian (lokiya), chưa siêu việt. Chúng ở mức trung bình, vừa có thể thiện vừa có thể bị ô nhiễm.

Paṇīta (Thù thắng): 4 Thánh đạo (magga) - 4 Thánh quả (phala) - Niết-bàn. Đây là các pháp siêu thế (lokuttara), hoàn toàn thanh tịnh, không còn bị ô nhiễm. Đây là mục tiêu tối hậu của sự tu tập

Chú giải cho biết một chi tiết rất đời thường nhưng phi thường: "Pātova mukhaṃ dhovitvā" (ngay sau khi rửa mặt buổi sáng).

  • Điều này cho thấy với một vị A-la-hán như ngài Anuruddha, việc sử dụng thắng trí không phải là sự chuẩn bị phức tạp. Ngay khi bắt đầu ngày mới, tâm ngài đã tự động vận hành trong sự thấu thị.
  • Việc quán sát 1.000 kiếp quá khứ/vị lai giống như một cách ngài kiểm điểm sự vận hành của dòng nghiệp lực trong vũ trụ trước khi bắt đầu công việc hóa độ trong ngày.

 Về phạm vi của "Thiên nhãn thông" có một sự phân biệt thú vị giữa văn bản Kinh và Chú giải về con số:

  • Trong Kinh: Nói ngài thắng tri "Ngàn thế giới" (Sahassī lokadhātu).
  • Trong Sớ giải: Nói rằng trong một lần hướng tâm, ngài có thể thấy tới 10.000 thế giới (Dasacakkavāḷasahassaṃ).

Điều này khẳng định năng lực của ngài vượt xa giới hạn mà ngôn từ thông thường mô tả. "Một ngàn" trong kinh thường là con số biểu trưng cho một hệ thống tiểu thiên, nhưng thực tế tầm nhìn của ngài có thể bao quát toàn bộ một "Trung thiên thế giới" (10.000 thế giới) chỉ trong một khoảnh khắc chú ý.

Trạng thái Trú ngụ Thường xuyên (Satata-vihāra) Chú giải nhấn mạnh rằng việc quán sát thế giới không phải là một sự "biểu diễn" thần thông nhất thời, mà là trạng thái sống thường nhật của ngài. Đối với người phàm, chúng ta "trú" trong những suy nghĩ về gia đình, công việc. Đối với ngài Anuruddha, ngài "trú" trong sự bao quát vũ trụ. Tuy nhiên, dù nhìn thấy hàng vạn thế giới sinh diệt, tâm ngài vẫn bất biến nhờ nền tảng Tứ Niệm Xứ (như đã nói ở bài kinh số 6).

Tính chất "Uttānameva" (Rõ ràng) của Kinh số 7, Khi chú giải nói bài kinh số 7 là "rõ ràng", điều đó ngụ ý rằng giáo lý về việc Tứ Niệm Xứ dẫn đến "Diệt tận Ái" (Taṇhākkhaya) là chân lý cốt lõi, minh bạch nhất của đạo Phật. Không có gì cần tranh luận hay giải thích thêm khi một hành giả đã đặt chân lên con đường quán chiếu thân tâm.

Sớ Giải

901.tatiye mahābhiññatanti chābhiññābhāvaṃ. hīnaṃ dhammantiādīsu imāya pāḷiyā attho veditabbo — “katame dhammā hīnā? dvādasa akusalacittuppādā, ime dhammā hīnā. katame dhammā majjhimā? tīsu bhūmīsu kusalaṃ, tīsu bhūmīsu vipāko, tīsu bhūmīsu kiriyābyākataṃ sabbañca rūpaṃ, ime dhammā majjhimā. katame dhammā paṇītā? cattāro maggā apariyāpannā, cattāri ca sāmaññaphalāni nibbānañca, ime dhammā paṇītā”ti (Dha. Sa. 1423-1425).

901. Trong bài kinh thứ ba, từ “mahābhiññatanti” (đại thần thông) được hiểu là sự chứng đắc sáu thắng trí (chābhiññābhāvaṃ).

Đối với cụm từ “hīnaṃ dhammaṃ” (trạng thái thấp kém) trở đi, ý nghĩa cần được hiểu theo đoạn kinh điển sau đây:

  • “Những pháp nào là thấp kém (hīna)? Đó là mười hai tâm bất thiện (dvādasa akusalacittuppādā). Những pháp này là thấp kém.
  • Những pháp nào là trung bình (majjhima)? Đó là: thiện pháp trong ba giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), quả báo trong ba giới, tâm vô ký chức năng (kiriyābyākata) trong ba giới, và toàn bộ sắc pháp. Những pháp này là trung bình.
  • Những pháp nào là thù thắng (paṇīta)? Đó là bốn Thánh đạo (cattāro maggā apariyāpannā), bốn Thánh quả, và Niết-bàn. Những pháp này là thù thắng.”

(Trích dẫn từ Dhammasaṅgaṇī, đoạn 1423–1425)

902-905. Catutthe kaṇḍakīvaneti mahākaramandavane. Chaṭṭhe sahassaṃ lokanti iminā therassa satata vihāro dassito. Thero hi pātova mukhaṃ dhovitvā atītānāgate kappasahassaṃ anussarati. Paccuppanne pana dasacakkavāḷasahassaṃ ekāvajjanassa āpāthamāgacchati. Sattamaṃ uttānameva.

  • Về bài kinh thứ 4: Cụm từ "Rừng Gai" (Kaṇḍakīvane) chỉ cho khu rừng cây Karamanda lớn (Mahā-karamanda-vane).
  • Về bài kinh thứ 6: Cụm từ "Thế giới một ngàn" (sahassaṃ lokaṃ) dùng để chỉ cho trạng thái trú ngụ thường xuyên (satata-vihāra) của Trưởng lão.
  • Về năng lực của Trưởng lão: Thật vậy, sau khi rửa mặt vào buổi sáng sớm, Trưởng lão thường nhớ lại (quán sát) một ngàn kiếp (kappasahassaṃ) trong quá khứ và vị lai. Còn về hiện tại, chỉ trong một lần hướng tâm (ekāvajjanassa), mười ngàn thế giới (dasacakkavāḷasahassaṃ) hiện ra trong tầm quan sát của ngài.
  • Về bài kinh thứ 7: Ý nghĩa đã rõ ràng (uttānameva), không cần giải thích thêm.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

[52] Chương VIII

-ooOoo-

Tương Ưng Anuruddha

I. Phẩm Ðộc Cư

3. III. Sutanu (S.v,297)

1) Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, trên bờ sông Sutanu.

2) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Anuruddha:

-- Tôn giả Anuruddha tu tập, làm cho sung mãn những pháp nào đạt được đại thắng trí?

4) -- Thưa các Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ nên tôi đạt được đại thắng trí. Ở đây, này chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này chư Hiền, chính do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi được đại thắng trí.

5) Và thưa chư Hiền, chính do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng tri liệt pháp là liệt pháp, trung pháp là trung pháp, thắng pháp là thắng pháp.

4. IV. Katakì (1) (S.v,298)

1) Một thời Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàketa, tại rừng Kantakii.

2) Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Moggalàna, vào buổi chiều, từ độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta thưa với Tôn giả Anuruddha:

-- Thưa Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán tâm trên tâm... Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ này, phải an trú pháp ấy.

5. V. Kantakì (2) (S.v,299)

1-2) Nhân duyên ở Sàketa... Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

3) -- Thưa Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo vô học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ này, phải an trú pháp ấy.

6. VI. Kantakì (3) (S.v,299)

1-2) Tại Sàketa, ngồi xuống một bên, vị ấy nói như sau:

3) -- Tôn giả Anuruddha do tu tập, làm cho sung mãn những pháp gì, đã đạt được đại thắng trí?

-- Thưa Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ, tôi chứng đạt được đại thắng trí. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, thưa Hiền giả, tôi trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng đạt đại thắng trí.

5) Thưa Hiền giả, do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi thắng tri được một ngàn thế giới.

7. VII. Ái Tận (S.v,300)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) Tại đây, Tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo:

3) -- Bốn niệm xứ này, thưa chư Hiền, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận khát ái. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa chư Hiền, bốn niệm xứ này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn tận khát ái.