|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 22 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 651. - MỘT SỐ BÀI KINH VỀ TỨ NIỆM XỨ VÀ THẦN LỰC ... . ![]()
Một số các bài kinh nầy trong Tương Ưng Anuruddha
đề cập một cách đáng ngạc nhiên về mối liên hệ giữa Tứ
Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) và sự phát sinh của các thắng trí
(abhiññā) nơi Tôn giả Anuruddha. Điểm nổi bật là toàn bộ các
năng lực siêu việt — từ túc mạng minh, thiên nhãn, thiên nhĩ,
tha tâm trí cho đến lậu tận — đều được quy về một nền tảng duy
nhất: sự “tu tập và làm cho sung mãn” bốn niệm xứ. Chánh niệm
không chỉ là phương tiện dẫn đến giải thoát, mà còn đóng vai trò
quan trọng trong sự huân tu các thắng trí . Theo Sớ giải, khi
các bài kinh đề cập đến những năng lực liên hệ đến các yếu tố
của Thập Lực (dasabala) — vốn là đặc tính đặc thù của bậc Phật
Toàn Giác. Sớ giải cũng nói rõ ràng rằng chúng có thể hiện hữu
nơi các đệ tử, nhưng chỉ trong phạm vi từng phần (ekadesa). Điều
này phản ánh sự giới hạn tất yếu của trí tuệ Thanh văn, vốn tuy
thâm sâu nhưng vẫn mang tính điều kiện và không toàn diện. Trái
lại, nơi Đức Phật Toàn Giác, các trí này đạt đến mức độ
“nippadesa” và “sabbākāraparipūra”, tức là không giới hạn và
viên mãn trong mọi phương diện. Sự phân biệt này không nhằm hạ
thấp giá trị của A-la-hán, mà để xác lập tính độc nhất của trí
toàn giác (sabbaññutā-ñāṇa). Mức độ bao quát của các năng lực
phụ thuộc vào phạm vi tích lũy ba-la-mật và căn cơ giác ngộ của
từng hạng người. Do đó, cùng một pháp hành, nhưng kết quả có thể
khác nhau về lượng (pariccheda) và tính toàn diện
(ākāra-paripūra).
Kinh Văn
II. CHƯƠNG PHỤ THỨ HAI (PHẨM MỘT NGÀN)
Kinh Một Ngàn Kiếp
909. ekaṃ samayaṃ āyasmā anuruddho
sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho
sambahulā bhikkhū yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā āyasmatā anuruddhena saddhiṃ ... pe ... ekamantaṃ
nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavocuṃ —
Một thuở, Tôn giả Anuruddha đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Kỳ Viên,
tại vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, một số
đông Tỳ-khưu đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha, sau khi đến, họ trao
đổi những lời chào hỏi thân thiện. Khi đã kết thúc những lời
chào hỏi và nói chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên và thưa
với Tôn giả Anuruddha:
"Thưa Tôn giả Anuruddha, nhờ tu tập và trau dồi những pháp gì mà Tôn giả
đạt được sự vĩ đại của thắng trí?"
"Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm (Tứ
Niệm Xứ) mà tôi đã đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Bốn pháp ấy
là gì? Ở đây, này chư hiền, tôi an trú quán thân trong thân...
quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã loại bỏ tham
ái và ưu phiền đối với thế gian.
Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà
tôi đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Hơn nữa, này chư hiền,
chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi
có thể nhớ lại được một ngàn đại kiếp."
Kinh Thần Túc Thông
910. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā anekavihitaṃ
iddhividhaṃ paccanubhomi — ekopi hutvā bahudhā homi ... pe ...
yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattemī”ti. dutiyaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thực hiện được các loại thần thông khác
nhau: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện lại một
thân... tôi có thể tự tại điều khiển thân mình cho đến tận thế
giới Phạm thiên."
Kinh Thiên Nhĩ Thông
911. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā dibbāya
sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāmi
dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti. tatiyaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà với thiên nhĩ thanh tịnh siêu việt loài người,
tôi có thể nghe được cả hai loại âm thanh: thiên quốc và nhân
gian, dù ở xa hay ở gần."
Kinh Tha Tâm Thông
912. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā parasattānaṃ
parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi — sarāgaṃ vā cittaṃ
‘sarāgaṃ cittan’ti pajānāmi ... pe ... avimuttaṃ vā cittaṃ
‘avimuttaṃ cittan’ti pajānāmī”ti. catutthaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thấu hiểu tâm của các chúng sinh và các cá
nhân khác sau khi đã bao trùm chúng bằng tâm của mình. Tôi biết
tâm có tham là tâm có tham... biết tâm chưa giải thoát là tâm
chưa giải thoát."
Kinh Xứ và Phi Xứ
(Khả Tính và Bất khả )
913. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ṭhānañca
ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. pañcamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri được điều gì là khả thi (xứ) như
là khả thi, và điều gì là bất khả thi (phi xứ) như là bất khả
thi."
Kinh Thọ Báo Của
Nghiệp
914. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā
atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ ṭhānaso hetuso
vipākaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. chaṭṭhaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về kết quả của các
nghiệp quá khứ, vị lai và hiện tại tùy theo địa điểm và tùy theo
nguyên nhân."
Kinh Con Đường Dẫn
Đến Mọi Cảnh Giới
915. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā
sabbatthagāminippaṭipadaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. sattamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về con đường dẫn đến
mọi cảnh giới (thú)."
Kinh Đa
Giới
916. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā
anekadhātunānādhātulokaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. aṭṭhamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về thế giới với các
thành phần (giới) sai biệt và đa dạng."
Kinh Đa Dạng Khuynh
Hướng
917. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā sattānaṃ
nānādhimuttikataṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. navamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về sự đa dạng trong
khuynh hướng của các chúng sinh."
Kinh Căn Cơ Cao Thấp
918. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā parasattānaṃ
parapuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti.
dasamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về các mức độ thuần
thục trong các căn quyền tâm linh của các chúng sinh và các cá
nhân khác."
Kinh Các Tầng Thiền,
v.v.
919. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā
jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ
yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. ekādasamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về sự ô nhiễm, sự thanh
tịnh và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền (jhāna), các
giải thoát, các định và các chứng đắc."
Kinh Túc Mạng Thông
920. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi, seyyathidaṃ — ekampi jātiṃ dvepi jātiyo
... pe ... iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ
anussarāmī”ti. dvādasamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà tôi nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ của
mình, đó là: một đời, hai đời... nhiều kiếp hoại và kiếp thành
của thế giới... Như vậy tôi nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với
những đặc điểm và chi tiết cụ thể."
Kinh Thiên Nhãn
Thông
921. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne
upapajjamāne ... pe ... iti dibbena cakkhunā visuddhena
atikkantamānusakena yathākammūpage satte pajānāmī”ti. terasamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà với thiên nhãn thanh tịnh siêu việt loài
người, tôi thấy được sự sống và sự chết của các chúng sinh... và
tôi thấu hiểu các chúng sinh diễn tiến theo nghiệp báo của mình
như thế nào."
Kinh Sự Lậu Tận
Thông
922. “imesañca panāhaṃ, āvuso,
catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā āsavānaṃ khayā
anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭhe dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja viharāmī”ti. cuddasamaṃ.
... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng
chánh niệm này mà nhờ sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong đời
hiện tại, tôi đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú vào sự
giải thoát tâm không lậu hoặc, giải thoát bằng trí tuệ."
Chú Thích
Sớ giải khẳng định rằng những khả năng trong “thập lực” có
xuất hiện nơi các vị
Thánh đệ tử, nhưng chỉ mang tính từng phần và giới hạn. Trái
lại, nơi Đức Phật Toàn Giác, các năng lực ấy đạt đến mức độ viên
mãn tuyệt đối, không phân đoạn và bao trùm mọi phương diện của
thực tại. Qua đó, truyền thống chú giải thiết lập một ranh giới
rõ ràng giữa trí tuệ của Thanh văn và toàn trí của Phật, đồng
thời bảo vệ đặc tính độc nhất của quả vị Chánh Đẳng Giác.
Sớ Giải
909-922. dutiyavagge ṭhānañca
ṭhānatotiādīhi thero dasabalañāṇaṃ paṭijānāti. kimpanetaṃ
sāvakānaṃ hotīti? ekadesena hoti, sabbaññubuddhānaṃ panetaṃ
nippadesaṃ sabbākāraparipūranti.
“909–922. Trong phẩm thứ hai, bằng các câu như ‘ṭhānañca ṭhānatoti’ v.v.,
vị Trưởng lão xác nhận (tuyên bố) trí thập lực. Điều này có phải
thuộc về các vị đệ tử không? Có, nhưng chỉ một phần; còn đối với
các vị Phật Toàn Giác thì điều này là trọn vẹn, hoàn toàn đầy đủ
về mọi phương diện.”
|