BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 22 tháng 04, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 52. Tương Ưng Anuruddha-Chương Phụ Thứ Hai-Phẩm Một Ngàn- SN 52. 11 đến 22
Bài 651. - MỘT SỐ BÀI KINH VỀ TỨ NIỆM XỨ VÀ THẦN LỰC

... .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-651.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Một số các bài kinh nầy trong Tương Ưng Anuruddha  đề cập một cách đáng ngạc nhiên về mối liên hệ giữa Tứ Niệm Xứ (satipaṭṭhāna) và sự phát sinh của các thắng trí (abhiññā) nơi Tôn giả Anuruddha. Điểm nổi bật là toàn bộ các năng lực siêu việt — từ túc mạng minh, thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm trí cho đến lậu tận — đều được quy về một nền tảng duy nhất: sự “tu tập và làm cho sung mãn” bốn niệm xứ. Chánh niệm không chỉ là phương tiện dẫn đến giải thoát, mà còn đóng vai trò quan trọng trong sự huân tu các thắng trí . Theo Sớ giải, khi các bài kinh đề cập đến những năng lực liên hệ đến các yếu tố của Thập Lực (dasabala) — vốn là đặc tính đặc thù của bậc Phật Toàn Giác. Sớ giải cũng nói rõ ràng rằng chúng có thể hiện hữu nơi các đệ tử, nhưng chỉ trong phạm vi từng phần (ekadesa). Điều này phản ánh sự giới hạn tất yếu của trí tuệ Thanh văn, vốn tuy thâm sâu nhưng vẫn mang tính điều kiện và không toàn diện. Trái lại, nơi Đức Phật Toàn Giác, các trí này đạt đến mức độ “nippadesa” và “sabbākāraparipūra”, tức là không giới hạn và viên mãn trong mọi phương diện. Sự phân biệt này không nhằm hạ thấp giá trị của A-la-hán, mà để xác lập tính độc nhất của trí toàn giác (sabbaññutā-ñāṇa). Mức độ bao quát của các năng lực phụ thuộc vào phạm vi tích lũy ba-la-mật và căn cơ giác ngộ của từng hạng người. Do đó, cùng một pháp hành, nhưng kết quả có thể khác nhau về lượng (pariccheda) và tính toàn diện (ākāra-paripūra).

Kinh Văn

II. CHƯƠNG PHỤ THỨ HAI (PHẨM MỘT NGÀN)

Kinh Một Ngàn Kiếp

909. ekaṃ samayaṃ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anuruddhena saddhiṃ ... pe ... ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṃ anuruddhaṃ etadavocuṃ —
“katamesaṃ āyasmā anuruddho dhammānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto”ti? “catunnaṃ khvāhaṃ, āvuso, satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto. katamesaṃ catunnaṃ? idhāhaṃ, āvuso, kāye kāyānupassī viharāmi ... pe ... vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — imesaṃ khvāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā mahābhiññataṃ patto. imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā kappasahassaṃ anussarāmī”ti. paṭhamaṃ.

Một thuở, Tôn giả Anuruddha đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Kỳ Viên, tại vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-khưu đi đến chỗ Tôn giả Anuruddha, sau khi đến, họ trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Khi đã kết thúc những lời chào hỏi và nói chuyện thân mật, họ ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Anuruddha:

"Thưa Tôn giả Anuruddha, nhờ tu tập và trau dồi những pháp gì mà Tôn giả đạt được sự vĩ đại của thắng trí?"

"Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm (Tứ Niệm Xứ) mà tôi đã đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, này chư hiền, tôi an trú quán thân trong thân... quán thọ trong thọ... quán tâm trong tâm... quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.

Này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi đạt được sự vĩ đại của thắng trí. Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi có thể nhớ lại được một ngàn đại kiếp."

Kinh Thần Túc Thông

910. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhomi — ekopi hutvā bahudhā homi ... pe ... yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattemī”ti. dutiyaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thực hiện được các loại thần thông khác nhau: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện lại một thân... tôi có thể tự tại điều khiển thân mình cho đến tận thế giới Phạm thiên."

Kinh Thiên Nhĩ Thông

911. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāmi dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti. tatiyaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà với thiên nhĩ thanh tịnh siêu việt loài người, tôi có thể nghe được cả hai loại âm thanh: thiên quốc và nhân gian, dù ở xa hay ở gần."

Kinh Tha Tâm Thông

912. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi — sarāgaṃ vā cittaṃ ‘sarāgaṃ cittan’ti pajānāmi ... pe ... avimuttaṃ vā cittaṃ ‘avimuttaṃ cittan’ti pajānāmī”ti. catutthaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thấu hiểu tâm của các chúng sinh và các cá nhân khác sau khi đã bao trùm chúng bằng tâm của mình. Tôi biết tâm có tham là tâm có tham... biết tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát."

Kinh Xứ và Phi Xứ (Khả Tính và Bất khả )

913. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. pañcamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri được điều gì là khả thi (xứ) như là khả thi, và điều gì là bất khả thi (phi xứ) như là bất khả thi."

Kinh Thọ Báo Của Nghiệp

914. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ ṭhānaso hetuso vipākaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. chaṭṭhaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về kết quả của các nghiệp quá khứ, vị lai và hiện tại tùy theo địa điểm và tùy theo nguyên nhân."

Kinh Con Đường Dẫn Đến Mọi Cảnh Giới

915. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā sabbatthagāminippaṭipadaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. sattamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về con đường dẫn đến mọi cảnh giới (thú)."

Kinh Đa  Giới

916. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā anekadhātunānādhātulokaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. aṭṭhamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về thế giới với các thành phần (giới) sai biệt và đa dạng."

Kinh Đa Dạng Khuynh Hướng

917. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā sattānaṃ nānādhimuttikataṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. navamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về sự đa dạng trong khuynh hướng của các chúng sinh."

Kinh Căn Cơ Cao Thấp

918. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. dasamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về các mức độ thuần thục trong các căn quyền tâm linh của các chúng sinh và các cá nhân khác."

Kinh Các Tầng Thiền, v.v.

919. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ pajānāmī”ti. ekādasamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi thắng tri như thực về sự ô nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền (jhāna), các giải thoát, các định và các chứng đắc."

Kinh Túc Mạng Thông

920. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmi, seyyathidaṃ — ekampi jātiṃ dvepi jātiyo ... pe ... iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmī”ti. dvādasamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà tôi nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ của mình, đó là: một đời, hai đời... nhiều kiếp hoại và kiếp thành của thế giới... Như vậy tôi nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với những đặc điểm và chi tiết cụ thể."

Kinh Thiên Nhãn Thông

921. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne ... pe ... iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena yathākammūpage satte pajānāmī”ti. terasamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà với thiên nhãn thanh tịnh siêu việt loài người, tôi thấy được sự sống và sự chết của các chúng sinh... và tôi thấu hiểu các chúng sinh diễn tiến theo nghiệp báo của mình như thế nào."

Kinh Sự Lậu Tận Thông

922. “imesañca panāhaṃ, āvuso, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭhe dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmī”ti. cuddasamaṃ.

... "Hơn nữa, này chư hiền, chính nhờ tu tập và trau dồi bốn nền tảng chánh niệm này mà nhờ sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong đời hiện tại, tôi đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú vào sự giải thoát tâm không lậu hoặc, giải thoát bằng trí tuệ."

Chú Thích

Sớ giải khẳng định rằng những khả năng trong “thập lực” có  xuất hiện nơi các vị Thánh đệ tử, nhưng chỉ mang tính từng phần và giới hạn. Trái lại, nơi Đức Phật Toàn Giác, các năng lực ấy đạt đến mức độ viên mãn tuyệt đối, không phân đoạn và bao trùm mọi phương diện của thực tại. Qua đó, truyền thống chú giải thiết lập một ranh giới rõ ràng giữa trí tuệ của Thanh văn và toàn trí của Phật, đồng thời bảo vệ đặc tính độc nhất của quả vị Chánh Đẳng Giác.

Sớ Giải

909-922. dutiyavagge ṭhānañca ṭhānatotiādīhi thero dasabalañāṇaṃ paṭijānāti. kimpanetaṃ sāvakānaṃ hotīti? ekadesena hoti, sabbaññubuddhānaṃ panetaṃ nippadesaṃ sabbākāraparipūranti. “909–922. Trong phẩm thứ hai, bằng các câu như ‘ṭhānañca ṭhānatoti’ v.v., vị Trưởng lão xác nhận (tuyên bố) trí thập lực. Điều này có phải thuộc về các vị đệ tử không? Có, nhưng chỉ một phần; còn đối với các vị Phật Toàn Giác thì điều này là trọn vẹn, hoàn toàn đầy đủ về mọi phương diện.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

-ooOoo-

Tương Ưng Anuruddha

II. Phẩm Thứ Hai

11. I. Một Ngàn (S.v,303)

1) Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, trong khu vườn ông Anàthapindika.

2-3) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm... nói với Tôn giả Anuruddha:

-- Do tu tập, do làm cho sung mãn những pháp gì, Tôn giả Anuruddha đạt được đại thắng trí?

-- Thưa chư Hiền, do tu tập, làm cho sung mãn bốn niệm xứ, nên tôi chứng được đại thắng trí. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, này chư Hiền, tôi trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, thưa chư Hiền, nên tôi nhớ được ngàn kiếp.

12. II. Như Ý Lực (1) (S.v,303)

5) -- Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi thực hiện nhiều loại thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân... có thể tự thân bay đến Phạm thiên giới.

13. III. Như Ý Lực (2) (S.v,304)

5) -- Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng được thiên nhĩ thông, thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe được hai thứ tiếng, chư Thiên và loài Người, hoặc xa hoặc gần.

14. IV. Với Tâm Của Mình (S.v,304)

5) -- Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ, tôi với tâm của mình biết được tâm của nhiều loại hữu tình khác, nhiều loại người khác. Với tâm có tham, tôi rõ biết là tâm có tham... với tâm giải thoát, rõ biết là tâm giải thoát.

15. V. Xứ (1) (S.v,304)

5) -- Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thực rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.

16. VI. Xứ (2) (S.v,304)

-- Thưa chư Hiền, do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết quả dị thục các nghiệp báo (kammasamadanam) quá khứ, vị lai, hiện tại tùy thuộc sở do (thànati) và tùy thuộc về thân (hetaso).

17. VII. Ðạo Lộ (S.v,304)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết con đường đưa đến tất cả cảnh giới.

18. VIII. Thế Giới (S.v,304)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại sai biệt.

19. IX. Thắng Giải Sai Biệt (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết chỉ hướng sai biệt của các loại hữu tình.

20. X. Căn (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết các căn thượng hạ (indriyaparopariyattim) của các loại hữu tình và các loại người.

21. XI. Thiền (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền chứng, về Thiền, về Giải thoát, về Ðịnh.

22. XII. Minh (1) (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi nhớ được nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời... nhiều đời sống quá khứ cùng các nét đại cương và các chi tiết.

23. XIII. Minh (2) (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, tôi chứng được thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh.

24. XIV. Minh (3) (S.v,305)

5) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí, tôi chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát.